|
Những quyết định đúng hay sai
Trong bài viết này, tất că những chi tiết,
tên họ đều là thật
Chắc
chắn không thể so sánh đ�ươc với “Triệt thoái
Tây Nguyên”, tuy nhiên mỗi cá nhân chúng ta trong cuộc chiến, đă có những quyết định
quan trọng mà mức quan trọng đối với riêng ta có
thể gọi là để đời. Chỉ riêng ch�ưa đến 2 tháng cuối của
cuộc chiến, tôi có đến 3 quyết đinh để đời, 2 lần, tôi biết
chắc là đúng,
Ban Mê Thuột, ngày cuối cùng:
Chiều
9 tháng 3, 1975, Tr/t Giang, ngư�ời
đàn anh đă lâu lắm không gặp, trong cuôc họp ngắn
ngủi ở phi tr�ường Cù Hanh đă nhắn nhủ: “Anh ráng giúp chuyển hết
trung đoàn BDQ trong cầu không vận hôm nay” - Vâng, th�ưa
Tr/t, chúng tôi sẽ cố gắng hết ḿnh, cố gắng hết ḿnh!! từ hơn 4 tháng
nay, lúc nào chúng tôi cũng đă cố gắng hết ḿnh, hôm nay
1 phi vụ chuyển quân, cũng nhẹ nhàng thôi, cầu không vận gồm 3 chiếc C130,
sẽ chuyễn hết Biệt Đông Quân từ PLK xuống tăng c�ường cho
BMT, ngay chuyến đầu tiên đáp xuống BMT, lúc đó đă hơn 4 giờ chiều,
ống thuỷ điều của hệ thống thắng đă bị bể, chiếc C130
của tôi đă không c̣n thắng để tiếp tục đáp PLK hay BMT, liên lạc về TACC /TSN báo cáo t́nh trạng phi cơ và xin
về TSN đáp, phi đạo dài 12000 feet, với C130, có thắng hay không, không là 1 vấn
đề.
Không
hiểu sao, lịnh từ TACC bắt tôi phải ở lại BMT chờ chuyến spare ra sữa,…
tôi đă cố gắng thuyết phục, nào là khả năng của phi cơ, nào là kinh nghiệm
của phi hành đoàn, nào là…và chắc chắn đă gần 5 giờ chiều, không thể
có spare nào ra kịp, vân vân…cuối cùng 1 giọng rất là
hách dịch, từ đầu TSN của 1 T/T tôi không nhớ tên: “ …tôi T/T X. ra lịnh
cho anh, phải ở lại BMT đợi spare ra sửa,..”, biết
không thể thuyết phục hay “ phải trái” ǵ nữa, tôi cũng nổi cáu trả
lời: “OK, anh ghi vào sổ trực, tôi, Đ/u PDH, lấy
quyền TPC, nhận mọị
trách nhiệm, đem tàu về TSN..” và tôi đă an toàn đáp TSN
để biết rằng, ngay tối đó, BMT đă thất thủ, để biết
rằng, nếu tôi không b�ướng, chắc chắn cả PDH chúng tôi đă phải
oan uổng “hy sinh”.
Quyết
định “ba gai” của tôi hôm đó là đúng !
TSN, ngày cuối cùng, 28 tháng 4, 1975
Trong
suốt hơn tháng nay, chúng tôi đă điên đầu với
những trọng trách, việc nư�ớc, việc nhà, nhất là 27 ngày trư�ớc,
toàn bộ Cambodia đă nằm trong tay CS, Kmer rouge đă thật sự tắm máu, h́nh ảnh
của 1 đám Miên cộng dơ cao dao, súng, đuổi tất
cả dân, phải ra khỏi thành phố,
Từ đài VOIR, BBC toàn là những tin tức bi thảm, câu nói: “không 1 ánh sáng, không
1 ngọn nến ở cuối đường hầm”, thật sự bây giờ tôi mới thấm.
Ngày
23 và 24 tháng 4, phần lớn vợ con của các bạn phi công F5,
A37, khu trục và vợ con các “ông lớn” BTL/KQ đă
đ�ợc 2 chiếc C-141 đem qua Guam, những đêm không phải bay, vợ chồng
tôi ra Givral mua 1 hộp kem ngon nhất, lên
sân th�ượng, vừa ăn, vừa ngắm những ng�ười may mắn
nào đó đang ngồi trên những chiếc C 141, C130 liên tục cất cánh từ TSN, thầm
nói với nhau, nếu không đi đư�ợc, chắc c̣n lâu lắm mới có thể
ngố với nhau như� thế này, chắc c̣n lâu lắm mới có hộp kem ngon như�
thế này để vừa ăn, vừa “ngắm mây trời….ơi”… làm
sao đi đ�ược?
Sau
hôm chiếc C130 của PD 435 bay qua Singapore tị nạn, chúng tôi
chỉ đư�ợc đổ 20,000 lbs xăng, thay v́ 28.000 lbs, quư vị BTL cứ tính
nhăm, nếu muốn, với bao nhiêu đó xăng, lên 25 ngàn bộ, tắt đi 1 hay 2 máy, dư�
sức cho chúng tôi bay tới …. úc, và cũng theo tin “t́nh báo”, 2 chiếc C130 tốt nhất, có gắn cả ghế ngồi cẩn thận, đ�ược
đổ đầy 28.000lbs xăng, và dấu …đâu đó.
Những
ngày cuối cùng thật kinh hoàng, tối 24/4/75 những “ông lớn” sau khi đă an toàn
đư�a vợ con ra đi bằng tàu bay Mỹ, C-141, đă dự đinh “cư�ớp”
1 phi cơ của phi đoàn 435 (lại …435!), như�ng mưu sự tại nhân, thành
sự tại …..D/u H., D/u H., TPC đă cứng rắn chống
lại lịnh, kêu toáng trên tần
số Phong Đăng,( Phong đăng là tần số riêng của
an ninh KQ SD5, tất că các phi cơ tr�ước khi di chuyển hay đáp
đều phải đ�ược OK qua tần số này)
cơ m�ưu bại lộ, các quan lớn lẫn mất,
để lại một ḿnh Tr/t Đ. trở thành “tù binh”,
đợi ngày ra ṭa án quân sự, đúng là “Lê Lai cứu chúa” !! (tuy nhiên sau đó Tr/T Đ. cũng đă có mặt tại
Utapao tr�ưa ngày 29/4/75)
Mấy
hôm nay, vợ con tôi đă đ�ược, sáng đ�ưa về, tối đón vào
để ngủ trong căn cứ, kinh nghiệm qua những
lần di tản từ mùa Hè 72, và mới đây, những phi vụ “di tản” của
cuối cuộc chiến, từ 1974 đến bây giờ, cho
thấy, sự vư�ợt thoát của că gia đ́nh chúng tôi, -nếu đ�ược-,
cũng sẽ rất cam go, mong manh, và nguy hiểm, tôi đă nghĩ
rằng, lần này, sẽ khó khăn hơn bất cứ cuộc di tản nào, gian nan hơn tất cả cuộc di tản Huế, Đà nẳng, Nha Trang, Phù cát gộp
lại, ….sau chuyến Singapore của PDH 435, có nhiều bạn
trong phi đoàn đă nghĩ đến 1 vài phi tr�ường lạ, bỏ hoang, thậm chí có nhiều đoạn đư�ờng của xa lộ Đại hàn cũng đ�ược nằm trong danh sách khi hữu
sự…
Những
ngày cuối, load bom bên Hot cargo, nhiều
lần, chúng tôi đă mỉm c�ười lắc đầu với những nhân viên của phi hành đoàn USAF C141, C130 cũng đang load hàng tại đó, có những
phi công không quen biết, ái ngại nh́n chúng tôi, và như� tâm
t́nh của 1 pilot với 1 pilot, đă nhiều lần đề
nghị và rủ chúng tôi bỏ phi cơ, leo lên máy bay, theo họ
qua Guam, qua Subic Bay, “ This war will over in a couple day “ - “We will fight for a couple of
more days then !”, tôi đă hiên ngang trả lời như� thế,nghĩ lại, nếu
vợ con tôi đă đ�ược di tản hôm tr�ước, giống vợ con
của các “xếp”, không biết câu trả lời của tôi có “oai hùng” nh�
vậy không?.......
Hôm
nay 28/04/1975, sau những ngày, đêm
vật vă với những phi vụ chuyển quân, di tản, và thả bom BOB, hôm nay tôi đ�ược
cắt phi vụ túc trực, Spare #1 cho PD 437, vậy là tà tà, cà
phê, cà pháo, lang thang đến gần 3 giờ chiều th́ đư�ợc lịnh sửa
soạn cất cánh đi Côn Sơn gấp, bên PD 435 cũng vậy sẽ có 1 phi vụ ra Côn
Sơn, chở Quân cảnh và nhân viên kỷ thuật, chiếc của tôi, PD 437 sẽ chở
1 xe (bồn) chứa xăng và hơn 1 trăm
đèn của nha lộ vận để làm đèn đáp cho phi trường, những chiếc
đèn đen thui, tṛn nh� trái b�ởi, có tim đèn làm bằng văi bấc và chứa
đầy dầu, tôi đă cầm thử bằng cả 2 tay, sao nặng thế? liên t�ưởng
đến những trái bom, hay những chiếc đèn của thợ mỏ trong mấy cuốn sách h́nh Lucky Luke thuở x�a, tất că sẽ đ�ợc đặt dài theo phi đạo, và sẽ trở thành “ánh
tinh cầu ” cho chúng tôi đáp trong đêm naỵ
Phi
trư�ờng Côn Sơn là 1 phi tr�ường nhỏ, không điện, không đèn,
chỉ hoạt động khi c̣n ánh mặt trời, có nghĩa là nếu “câu” đến
5 giờ chiều mà ch�ưa cất cánh, th́ cũng có nghĩa là phi vụ sẽ đ�ược
huỷ bỏ, có nghĩa sẽ ở yên d�ưới đất,
lo chuyên cho vợ con khi …cần thiết, Những cuộc di tản thương �
bắt đầu trong đêm khuya !, Huế, Đà nẵng cũng thế, Nha Trang, Phù cát, và mới đây, Pnomh Penh cũng thế.... và tôi linh cảm, TSN cũng
sẽ như� thế. Tôi quyết đinh thật nhanh: đi
1 tiếng, ground time 1 tiếng, về 1 tiếng nữa là xong phi vụ, Spare sẽ đ�ược
release, tôi sẽ có nhiều thời giờ hơn cho gia đ́nh,
đă quyết định nh�ư thế, tôi sữa soan
cất cánh, không biết rằng quyết định của tôi lúc đó sẽ ảnh h�ởng
rất quan trọng với gia đ́nh tôi, và rất nhiều gia đ́nh khác.
Hơi
lạ, phi vụ “b́nh thừơng thôi”, mà sao Đ/T Hiến, KDT KD53 ra tận phi cơ hỏi han,
coi sóc, tôi rất có cảm t́nh và kính trọng vị chỉ huy
này, hôm nay, h́nh nh�ư trong ông có 1 cái ǵ không b́nh th�ường..…g�ương
mặt ông, cũng không nh�ư mọi ngày, và có thể tôi bị “tự kỹ ám thị”
hay sao, mà trong không khí hôm nay, cũng có ǵ là lạ.
Nh́n ra taxiway NS, chiếc C130 của PD 435 đang từ từ quay vào, tôi không nhớ rơ TPC là ai, Đ/T Hiến nh́n tôi, tôi nh́n lại, và h́nh
nh� có 1 chút ǵ chán nản, h́nh nh� có 1 cái lắc đầu, tôi biết, thế là chỉ
c̣n ḿnh tôi đi Côn Sơn, giờ này mà friend declare tàu hư�, bất cứ hư�
cái ǵ .. ǵ, đợi sửa xong chắc cũng ….khuya rồi, Phi đạo 25 LH, tôi xin
cất cánh ngay từ NS crossing, quẹo gắt về trái 180 độ, qua Saigon, thành phố
của tôi, đă bao nhiêu năm ấp ủ, biết bao kỷ niệm của tuổi ấu
thơ, thời mới lớn, nối tiếp là thời thanh niên, những khoảng thời
gian thơ mộng nhất của một đời ng�ười,
bên d�ưới, những con đư�ờng thân yêu, chứa đầy kỷ niệm, h́nh như� đang vẫy chào, h́nh như� đang im lặng chịu đựng, thôi thế cũng đành,
Lấy
hư�ớng ra Vũng Tàu và từ đó, thẳng ra Côn Sơn, loanh quanh 1 lúc, thế mà khi cất cánh rời Côn sơn, chúng tôi đă bay như� đuổi
theo những giọt nắng cuối ngày, mặt trời đang từ từ ch́m vào biển rộng, một h́nh ảnh thật đẹp, giá như� tôi
là hoạ sĩ, giá như� tôi là là 1 nhiếp ảnh gia…., đến Vũng tàu, trời
đă hoà toàn tối, 1 ḿnh, lang thang trên gần 30 ngàn bộ, tôi
lần t́m tần số ADF và bắt đư�ợc đài
phát thanh Saigon, “....không biết Đai
T�ướng dựa vào thế lực nào để nói chuyên
ḥa b́nh với phía bên kia...” , tiếng của Tổng Thống Trần Văn Hư�ơng,
chất vấn ông Dư�ơng Văn Minh trong buổi trao quyền tại hội trư�ờng
Diên Hồng, …một lúc sau, bài đáp từ của DVM, tôi đă nghe “..th�ưa thầy, chuyện của chúng tôi, đă có chúng tôi lo..” chết mẹ rồi, thế là xong, tôi buột miêng xổ nho, thôi rồi, kể
như� chấm hết! Qua không phận Biên hoà, nh́n xuống
những đám lữa đang cháy, từng cột khói đang bốc lên, thỉnh thoảng
những trái pháo, như� những quả banh lữa bay cầu ṿng, từ bốn h�ướng
vào phi tr�ường, nổ bùng …,tôi đă t�ưởng tư�ợng ra,
những tiếng gào thét của bom đạn, những tiếng kêu cứu của bạn tôi,
của đồng bào tôi, bên d�ưới, máu lữa sôi sục như� thế, như�ng sao trong pḥng lái, tất cả
im lặng quá, chỉ có tiếng rầm ŕ của 4 động
cơ thân yêu đang quay đều.
Đă cố gắng nhiều lần như�ng
chúng tôi vẫn không liên lạc đư�ợc với ai
cả, Paris, Phong Đăng đều im lặng, để tránh
SA7, vẫn giử nguyên cao độ 25000 feet, trên bầu trời TSN tôi im lặng làm “trôn
ốc” xuống, bay đêm cũng đă nhiều, đáp đêm TSN cũng đă nhiều, như�ng ch�a bao giờ tôi thấy bầu trời
ảm đạm như� hôm nay, những áng mây mỏng, lang thang đâu đó ở mư�ời
ngàn bộ, xa xa bên d�ưới, thành phố đă lên đèn,
nh́n lên, những vị sao lấp lánh, h́nh nh� tôi đă thấy đ�ược giải
Ngân Hà….đáng lư ra, cănh này phải đẹp và thơ mông
biết bao, đàng nàỵ …đèn phi tr�ường vẫn tắt ngấm, một
hiện tư�ợng thật lạ, trong gần mư�ời năm ở TSN, chư�a
bao giờ xảy ra, …hay là phi trư�ờng đă bị chiếm ? có thể như�
thế đư�ợc sao?
Tôi mới rời phi tr�ường này, phi trư�ờng
thân yêu của tôi, chỉ hơn 4 tiếng thôi mà? cuối cùng từ Saigon tower, thay v́ phải
xử dụng tiếng Anh, một giọng, tiếng Việt,
rất ư� là Việt ….cộng cất lên: “…Hư�ợc… ky..
0..2…7, bạn là ai, bạn là loại máy bay ǵ, bạn từ đâu tới, bạn chở
ǵ về…” chết tôi rồi, Saigon Tower mà không biết
tiếng Anh, không biết Herky là loại máy bay ǵ th́ chắc chỉ có là …VC!! Giọng “thân
yêu” ấy lại cất lên, “…H�ược ky 027, gió ngang …nhè nhẹ,
bạn cứ việc tà tà đáp !!! “ ối dzời ơi, thế này là bỏ bu con dzồi!!!,
các bạn đă đi bay th́ chắc chắn cũng sẽ như� tôi, “dân trong nghề”, sẽ không không nghĩ ǵ khác hơn là phi trư�ờng
đă bị chiếm, vào final approach, monitor bên tần số VHF tôi lại nghe 1 đoạn
communication giửa một phi cơ của Air Việt Nam, và Saigon Center, (Saigon Center kiểm soát không l�ưu toàn cỏi Việtnam
bao gồm sang cả Thailan) đoạn đối thoại này, đă 35 năm nay, tôi vẫn
không thể nào quên: "Saigon Center, tôi xin phép rời tần số,
giờ này bạn c̣n ở lại Việtnam là 1 sự hy sinh và can đảm lớn lao, chúc
bạn may mắn.” giọng nói rất rỏ ràng, mạch lạc của “dân trong
nghề” đă làm tôi lạnh buốt x�ương sống, thôi rồi,…nh�ưng
gia đ́nh, vợ con đang trông chờ, và mổi ḿnh tôi là niềm hy vọng duy nhất, và
là cuối cùng, thế nào đi nữa, tôi cũng phải đáp
thôi, nếu đi một ḿnh, tôi đă đi từ vài hôm tr�ước, thôi th́ sống
chết có nhau vậy, tất că anh em trong phi hành đoàn đều
muốn vậy, và tôi cũng vậy, vừa đáp, vừa chùi
nhanh ḍng n�ước mắt uất hận tuôn trào, từ
từ đ�a phi cơ vào bến đậu, parking vắng lặng một cách khác th�ường,
không 1 chiếc xe h�ướng dẫn, không 1 nhân viên phi đạo bắt tàu…chỉ
toàn là chứng tích giống nh�ư phi trư�ờng
vừa trải qua 1 sự tàn phá, trải qua 1 cuộc giao tranh,
Trong
đêm vắng với khung cảnh mờ ảo không đèn của
bến đậu, tôi thấy từ
xa, một chiếc Doge 4x 4 quen thuộc, trên xe chở chừng 5 hay 6 mạng lố nhố những súng ống, nón sắt chạy đến, tôi chắc chắn đó là đám “ng�ười anh em phía bên kia”, và cả
phi hành đoàn chúng tôi sắp bị chúng bắt và áp giảị Lần cuối trong intercom, tôi ngỏ lời từ
giả phi hành đoàn, … như�ng ơ ḱa, chiếc xe đó, sao nó lại chay chậm
lại rồi vụt qua luôn, tôi thật sự hoang mang, men theo
những ụ sắt của bến đậu, chúng tôi lúp xúp chạy về h�ướng
phi đoàn, có ánh đèn của 1 xe honda đang chạy đến, tôi chỉa súng và hô to “đứng
lại !!”, xe thắng vội, trượt bánh ngă kênh ra giữa
parking, ngư�ời 1 nơi, xe 1 ngă, anh vừa trả lời, vừa ḷm c̣m ḅ dậy..
” phi tr�ường bị oanh tạc….” tôi thở ra nhẹ nhỏm, th́ ra
thế!!, ch�ưa bao giờ tôi cảm thấy khoan khoái và sung sư�ớng nh�ư
bây giờ, không quan tâm ǵ đến những mănh bom, những dấu tích của cuộc oanh
kích trải đầy trên đ�ường, chúng tôi lần
ṃ vào đến phi đoàn, chư�a bao giờ như� hôm nay, tôi hân hoan gặp lại
bạn bè, tất că vẫn đầy đủ, tất că vẫn
c̣n đây, không hề hấn ǵ, chư�a kịp uống xong ly nư�ớc, Sĩ
Quan Trực hớt hải chạy kiếm tôi và báo trên S�ư Đoàn Bộ cho xe xuống
đón tôi lên tŕnh diện ông T�ướng, ǵ nữa đâỷ tôi vừa bâng khuơ hỏi,
vừa b�ớc theo ra xe, gần m�ời năm d�ưới quyền ông Tư�ớng,
thỉnh thoảng cũng hầu ông vài set tennis, như�ng ch�a bao giờ tôi đặt
chân đến gần văn pḥng của ông, không khí bộ chỉ huy sư� đoàn thật
nghiêm trọng, nh́n quanh sao thấy nhiều ng�ười mặc đồ bay, mang lon Đại
tá thế này? Đại tá phi công, hay phi công Đại tá ǵ tôi
cũng biết nhiều, mà sao bây giờ toàn là những khuôn mặt lạ ở đâu đến,
không bao giờ thấy, và ai cũng lộ vẽ nghiêm trọng
và lo lắng thái quá, lạ thật! tôi đang thắc mắc bỗng nghe những tiếng
biiiiip biiiiip kéo dài, nh�ư tín hiệu báo động, că pḥng
nhốn nháo chạy ra cữa, dựa l�ưng sát tư�ờng, tôi đang ở 1
thế thủ, và sẳn sàng để đối phó với 1 cái ǵ …tôi cũng không biết,
như�ng tôi biết chắc 1 điều, không nên nhốn nháo chạy theo họ, khoảng
năm phút sau, tất că lục đục quay vào, một ông chép miệng “ lại báo động
lầm,.. ch�ưa đến giờ..” à ra thế!!,
tôi chợt hiễu, ḷng thật ngao ngán, nh�ưng với tôi, trong những ngày cuối
này, ai làm ǵ cũng kệ họ, không cản trở, không phê phán, miển đừng làm hại
đến tôi, cuối cùng tôi đư�ợc gọi vào tŕnh diện C/T PPTiên, “ phi tr�ường Côn Sơn đáp thế nào,
đ�ược không anh Hùng?” ông hỏi, tôi vội trả lời: “ th�ưa ông T�ướng, tôi đáp đ�ược, th́ anh em trong
phi đoàn, ai cũng đáp đ�ược”, ông nh́n
tôi thật sâu, như� muốn đo l�ường, nh�ư để đánh
giá, và dư�ờng nh�ư ông đă hoàn toàn yên tâm với
câu trả lời của tôi, quay sang bên cạnh, nh́n T/T Chấn, chánh văn pḥng, ông ra lịnh
“ Chấn, anh cho bắt đầu cầu không vận”,
tôi vội vàng trở lại phi đoàn, lấy xe chạy về c�ư xá độc thân,
trong 1 căn pḥng nhỏ bé, vợ và con tôi đang đợi chờ, khoảng hơn 1 tiếng
sau, trên chuyến đầu tiên của cầu không vận, vợ con tôi đă đ�ược
bạn tôi, ng�ười TPC bay chiếc đó, đ�ưa ra Côn sơn, tôi trở lại phi đoàn, ḷng thấy rất thảnh
thơi, nh�ư trút đi 1 gánh nặng ngàn cân, bây giờ, tôi
sẳn sàng cho bất cứ việc ǵ, ……
Cầu không vận liên tục đến
gần sáng,có thể trên d�ới 3000 thân nhân của SD5 KQ đ�ược an toàn đưa
ra Côn sơn lánh nạn, và chỉ chấm dứt khi cộng quân bắt đầu pháo hàng loạt
vào phi trư�ờng TSN, lúc đó khoảng 4 giờ sáng ngày 29/04/1975.
Nghĩ
lại, quyết định đi Côn sơn của tôi là đúng,
chỉ chần chờ khoảng 1 tiếng sau, khi tên NTT và đồng
bọn oanh tạc phi trư�ờng, khi ánh mặt trời đă tắt, phi tr�ường Côn sơn không đèn, có lẽ
đêm đó sẽ không có cầu không vận, và gia đ́nh tôi, không biết sẽ ra sao?
Có
thể là định mệnh, tôi đă nghĩ như� thế,
và chắc rằng, tôi đă có 1 quyết định rất đúng.
Hung
Phan
| Subject: |
Re: Những quyết định đúng hay sai ? Bổ túc |
|
| Author: |
pilotvn |
|
Hungphan viết : Qua không phận Biên hoà, nh́n xuống những
đám lữa đang cháy, từng cột khói đang bốc lên, thỉnh thoảng những
trái pháo, như� những quả banh lữa bay cầu ṿng, từ bốn h�ướng
vào phi tr�ường, nổ bùng …,tôi đă t�ưởng tư�ợng ra,
những tiếng gào thét của bom đạn, những tiếng kêu cứu của bạn tôi,
của đồng bào tôi, bên d�ưới, máu lữa sôi sục như� thế, như�ng sao trong pḥng lái, tất cả
im lặng quá, chỉ có tiếng rầm ŕ của 4 động
cơ thân yêu đang quay đều. Năm giờ 30 chiều
ngày 28/4/75 tôi được lịnh cất cánh1 phi tuần A1 (T/U Nguyễn Thanh Bá bay số
2) để bay cover Biên Hoà t́nh cờ gặp phi tuần A37 của tên phản bội Ng t Trưng
(bay cùng cao độ thấp)nhưng không thể nào biết được dự mưu của
hắn,nên tiếp tục bay dọc theo BH,Thủ Đức,Long B́nh ...để yễm trợ
tinh thần anh em BB,TG .Cũng v́ bay quá thấp nên không thể thấy bọn Ng T Trung oanh tạc
TSN , cho đến 20 phút sau Tướng H.B.Tính gọi báo ,chúng tôi vội bay về TSN,chỉ
c̣n thấy khói lửa và chúng tôi trở lại BH để yễm trợ cho toán Vủ khí
và Đạn Dược KQ phá huỷ căn cứ SĐ 3 Kỹ Thuật &Tiếp Vận
,Lúc 6 giờ 45Tr/tá Mạnh ra lịnh châm ng̣i nổ,những cột khót cao vót tận hàng ngàn
bộ(chỉ SĐ3 KT&TV mà thôi,SĐ3 KQ vẫn c̣n nguyên vẹn,tại sao ???) Nh́n khói lửa
mịt mù chúng tôi sao tránh khỏi đau ḷng,có lẻ v́ vậy anh Hungphan nghỉ là phi trường
bị pháo ! và đau ḷng v́ t́nh thương yêu đồng đội và làm cho tôi căm thấy
hỗ thẹn thêm, tôi cảm thấy có lổi với anh em KQ B.H và TSN v́ những quyết
định kém sáng suốt (có thể gọi là ngu muội) C̣n nữa chiều ngày 19/4/75 tôi
được lịnh mang 4 chiếc A1 về TSN,không may đêm đến phi trường
Biên Hoà bị pháo,Chúng tôi ( T/U Nguyễn Văn Chuyên bay số 2 ,bây giờ đang ở Westminster,CA)cất
cánh lúc 1 giờ khuya nh́n thấy những họng súng 130 ly ở phía Bắc Tân Quyên đang nhỏ
giọt vào BH,chúng tôi xin lịnh oanh tạc nhưng vô hiệu,hàng giờ sau chúng tôi được
lịnh từ vị Tư Lệnh QĐ3 mang bom đi giải toả
??? Tôi cự nự nhưng vẫn tuân theo . Quí vị thấy tôi ngu xuẩn ? Tại sao
tôi lại tuân hành lịnh trên một cách quá ư ngu muội . Rơ ràng nh́n thấy bạn bè,đồng
đội ḿnh hứng chịa mưa pháo mà đành làm ngơ ? Tôi đă phụ ḷng T/T Nguyễn
Văn Huynh,PĐPhó PĐ518 đă cầu cứu khi ông gọi điều động phi tuần
cất cánh : "Tao biết tụi mầy đă bay hơn 6 tiếng rồi nhưng nghĩ
t́nh anh em B.H ráng bay lên ,ở đây đang bị pháo nặng lắm Phúc ơi !" Những
quyết định ngu xuẩn của tôi không biết thiệt hại bao nhiêu sinh mạng
của bạn hữu , đồng đội và làm cách nào đễ bù đấp lại đây
???
|
| Subject: |
Đời Phi Công Trực Thăng: Mùa Hè Đỏ Lửa (1) |
|
| Author: |
vincent |
|
Vài lời của người viết: Vùng cao nguyên bổng dưng sôi động, những cánh chim sắt của phi đoàn
Thần Tượng bất chợt bị cuốn lốc trong cơn bảo của trận
chiến bất ngờ. Những ngày hành quân liên tục trên những địa danh xa lạ
chưa từng biết đến của vùng rừng núi địa đầu giới tuyến
đă gây nhiều ấn tượng sâu đậm trong ḷng một người trai thời
loạn. Tôi xin ghi lại đây một vài h́nh ảnh, kỷ niệm của những tháng ngày
dài rong ruổi trên chiến trường đẩm máu, cũng như những phi vụ kinh
hoàng mà những người chiến sĩ Không Quân đă âm thầm lặng lẽ ra đi
không ai nhắc nhở.
Thành kính nghiêng ḿnh trước những vong linh đă hy sinh
v́ Tổ Quốc trong trận chiến "Mùa Hè Đỏ Lửa".
Một chút ǵ để nhớ đến những cánh chim
Thần Tượng gảy cánh trên ṿm trời Tây Nguyên:
Tr/u Phạm Thành Rinh, Th/u Vơ Diện, Trung úy Nguyễn Tường
Vân, Tr/u Trần văn Long cùng các mê vô xạ thủ, Song, Linh, Thông, Lan, Phiệt...
Cùng những cánh chim bạn, Phi đoàn 229, Lạc Long, thuộc
Phi Đội Trực thăng Vơ trang : Tr/u Trần Anh Tuấn, Tr/u Dương Đức
Luân Đôn, Th/u Nguyễn Văn Dũ, Ninh Trinh Thế Đạt.
Qua thời gian đă
quá xa vời, trí nhớ đă lu mờ, một vài chi tiết trong bài viết này đôi khi thiếu
sót hay không được chính xác, mong quư vị niên trưởng cùng các bạn hửu thông
cảm.
* Ghi chú: Cấp bậc cũa những nhân vật trong bài viết
không hẳn là cấp bậc cuối cùng của họ cuộc chiến tranh Việt Nam.
* * *
Mở đầu: Để
độc giả dể dàng theo dỏi những diển tiến cũng như địa
danh trong bài viết tôi xin khái lược về mặt trận vùng cao nguyên 1972.
Trận chiến khốc liệt nhất trong chiến trường
Việt Nam đă xảy ra trong những tuần lễ cuối mùa Xuân năm 72 kéo dài qua những
tháng mùa Hè và đă được tác giả Phan nhật Nam mô tả trong tác phẩm bi hùng tráng
"Mùa hè đỏ lửa", mặt trận được gọi là "Easter Offensive", danh từ
của đồng minh Hoa Kỳ. Đó là trận chiến khốc liệt, Cộng quân cố
thu hết tàn lực để mở một chiến dịch tổng công kích cuối cùng trên
toàn cỏi miền Nam hy vọng đạt được một thắng lợi nhằm
tạo áp lực lên bàn hội nghị ḥa b́nh ở Paris.
Ba mặt trận đồng loạt đánh vào miền Nam.
-Chiến dịch Nguyển Huệ, mủi dùi số một
hơn 30,000 quân Cộng sản tràn qua sông Thạch hản, tiến chiếm Quảng Trị,
Thừa Thiên vùng I.
-Mặt trận B-2, miền Nam từ lảnh thổ Cam Bốt,
mủi dùi thứ hai đánh thốc vào Lộc Ninh, B́nh Long, chế ngự vùng III.
-Mặt trận B-3, mủi dùi thứ ba cắt ngang vùng II, nhắm
vào Tân Cảnh, Kontum, Pleiku sau đó qua đường thung lũng Mật Khu An Lăo, kéo xuống
đồng bằng B́nh Định, bởi hai Sư Đoàn tinh nhuệ của địch,
Sư Đoàn Thép và Sư Đoàn Sao vàng cùng Sư đoàn F10 được yểm trợ bởi
Lữ đoàn chiến xa 203 và nhiều Trung Đoàn pháo binh.
Từ cuối tháng Giêng năm 1972, theo các nguồn tin
t́nh báo, tù binh và hồi chánh, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II ghi nhận có nhiều đơn
vị Cộng Sản Bắc Việt từ Cam Bốt và Lào đă xâm nhập vào khu vực
phía Bắc tỉnh Kontum. Đồng thời không thám của quân đội Hoa Kỳ cũng
đă ghi nhận được những sự tập trung lớn của lực lượng
Cộng Sản trong vùng thung lủng phía Tây Nam của Dak Tô, và Tây Bắc của thành phố
Kontum. Kể từ khi được tin địch xuất hiện, các đơn vị không-kỵ
và trực thăng vơ trang Hoa kỳ đă nỗ lực thám sát và phát hiện được
6 lằn xích song hành và nhiều chiến xa Bắc Việt tại phía Đông căn cứ 609
và thung lũng Plei Trap, nằm về phía Tây của Rocket Ridge. Theo như dự đoán của
bộ chỉ huy Quân Đoàn II và những cố vấn Hoa Kỳ th́ địch có thể sẽ
tấn công Cao nguyên vào mùa khô.
Quân đoàn II bắt đầu tăng cường
pḥng thủ Kontum và Pleiku. Bộ Tư lệnh tiền phương Sư đoàn 22 được
dời từ B́nh Định lên Tân Cảnh -Dakto Sư Đoàn 22 bộ binh gồm có 4 trung
đoàn 40, 41, 42, 47, tư Lệnh Đại Tá Lê Đức Đạt, trách nhiệm vùng Tân
Cảnh và Dak Tô II. Thiết đoàn 19 kỵ binh cũng được tăng cường
đến Tân Cảnh.
Sư đoàn 23 gồm 3 Trung đoàn 44, 45, 53, tư
Lệnh Đại Tá Lư Ṭng Bá, từ Ba Mê Thuộc được tăng viện thay thế
Sư Đoàn 22 bị tan rả sau khi Căn Cứ hỏa lực Tân Cảnh bị thất
thủ, để bảo vệ Kontum, đă lập pḥng tuyến từ phía Bắc thành phố
từ Đông sang Tây.
Lữ đoàn 2 Dù được tăng cường cho Quân
đoàn II, chịu trách nhiệm ṿng đai phía Tây Quốc Lộ 14, đóng trên những cao điểm.
Đóng dọc theo biên giới có 11 Tiểu đoàn Biệt Động Quân biên pḥng, chịu
trách nhiệm căn cứ Ben Het, ngay ngă ba biên giới, thường gọi là Tam Biên, cùng với
tiền đồn Polei Kleng phía Tây Kontum khoảng 20 cây số.
Riêng dăy Rocket Ridge là một dẫy cao điểm chạy
dài từ Bắc xuống Nam, nằm dọc theo phía Tây Quốc Lộ 14 khoảng 12 cây số,
tọa lạc hầu như ở giữa Tân Cảnh và Kontum, nơi những căn cứ
hỏa lực mang tên Tiền đồn Sáu, Tiền Đồn Năm, Căn cứ Yankee,
Charlie và Hotel đă nổi danh để đón nhận một định mệnh tàn khốc
trong những trận chiến rực lửa mùa Hè 72. Đặt biệt nhất là căn cứ
Charlie, qua bài ca bất hủ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, "Người ở
lại Charlie" đă ca tụng và tiếc thương cái chết của người anh hùng
tiểu đoàn trưởng TĐ/11 Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù, Tr/T Nguyễn Đ́nh Bảo.
Phi Vụ mở màn: Căn cứ hỏa lực, Tiền
đồn Sáu
-Oành...Oành..
Sau hai tiếng nổ như long trời lở đất, tôi
mở choàng mắt dậy, chưa tỉnh hồn không biết ḿnh đang ở đâu, tôi
phóng đại về hướng trước mặt, được chừng vài chục
bước tôi ngừng lại thấy ḿnh đứng chơ vơ giữa phi đạo nhựa
đường đen, hơi nóng bốc lên hừng hực, xung quanh không một bóng người.
Biết ḿnh vừa "bị tầu hỏa nhập ma", tôi vội vàng quay trở lại.
-Oành...
-Ê...ê...., hướng này nè, mẹ, thằng này nó khùng rồi...
Tôi nghe tiếng la to phía sau lưng.
-Oành...
Một trái pháo khác nửa nổ ngay đầu phi đạo.
Tôi rụt đầu "né" những mảnh đạn pháo đang bay xé trong không gian. Người
trần trùng trục, chiếc áo bay "nomex" màu cứt ngựa "fermeture" kéo tới rốn cởi
ra ngang thắt lưng, hai cánh tay áo quấn ṿng ngang bụng cột gút, tôi khom người phóng
nước đại xuyên qua giữa khoảng trống của mấy chiếc trực thăng
tắt máy đậu dọc theo phi đạo, hai tay khư khư ôm lấy quần cho khỏi
tụt.
-Ê, tao đây này...lại đây mau lên...
Thấy Tr/u Thành "râu" đang ngồi trong hố đất cách
mấy chục thước, tḥ đầu lên, nhe hàm răng trắng bóc dưới bộ
râu đen, tôi đổi hướng. Cái hố cá nhân đào vừa đủ cho một người,
Thành đang ép sát chừa chổ cho tôi, nhanh như cắt tôi phóng ḿnh xuống đưa cả
hai chân vào.
-Mẹ, mày ngủ mơ sao mà khùng thế...Tao thấy mày ở
trần tay ôm quần chạy khơi khơi giữa phi đạo giống như thằng
điên, tụi nó cười quá trời. Vừa nói xong Thành cười rộ.
Bây giờ tôi có phần hoàn hồn, tim đă bớt đập,
tôi cố lấy giọng b́nh tỉnh đánh trống lảng cho bớt "quê":
-Bố khỉ, tụi nó pháo dữ quá, đón tiếp phi hành
đoàn 215 kiểu này th́ chết mẹ ḿnh rồi. Chân ướt chân ráo lên đây gặp cảnh
này mất vui quá.
-Không biết tụi ḿnh đáp đây làm cái đếch ǵ ở
đây mà chờ lâu thế, nằm chờ để "ăn" pháo kích toi mạng. Thành "râu" rặt
giọng Bắc kỳ, có vẽ sốt ruột.
-Ḿnh đáp lúc hai giờ trưa phải không mày? Chờ cả
tiếng đồng hồ rồi đó. Nói xong tôi đưa tay lên xem giờ vừa quẹt
lau mồ hôi đổ hột trên mặt vừa phân bua cái vụ chạy "lộn ṣng" lúc nảy:
-Tối hôm qua ở Phan Thiết đi chơi khuya mới về,
lúc nảy chờ buồn ngủ quá tao chui ra sau tàu nằm thiếp đi ai dè tụi nó pháo
tao làm tao giật cả ḿnh tỉnh dậy không biết trời đất ǵ.
- Oành...Oành...hai trái pháo nổ gần đầu phi đạo,
những cụm khói đen bốc lên lẩn bụi mù.
-Dzọt..dzọt... mày...Tôi nhảy phóc lên khỏi miệng hố
vừa chạy vừa mở gút tay áo buộc ngang bụng xỏ tay hai tay kéo áo bay lên người.
Vừa đến gần chiếc trực thăng vơ trang đang đậu, hai anh mê vô xạ
thủ đă nai nịt sẳn sàng, tôi nhảy vọt lên ghế bay, không kịp bận áo giáp,
cầm chiếc helmet treo sau lưng đội vội vào, kéo hai sợi giây seat belt buộc
vào bụng xong, tôi cho con tàu quay máy. Tiếng kêu O... O... đồng loạt của những
chiếc trực thăng khác đang đậu gần đó vang lên trong bầu không khí oi ả.
Những cánh quạt trực thăng uể oải lười biến chuyển ḿnh chầm
chậm rồi nhanh lên dần. Tôi nóng ruột vặn tay ga, chiếc kim RPM ( rotation per minute
) trên đồng hồ tăng vọt, xong tôi kéo vội cần cao độ, con tàu đầy
ắp đạn và rockets nặng nề rùng ḿnh rời mặt đất khô nóng bỏng. Trước
mặt những chiếc trực thăng cất cánh bay tứ tán loạn cào cào, không đội
h́nh hàng ngũ...
Con tàu đă lên cao, nh́n xuống phi trường Phượng
Hoàng hoang vắng nhỏ dần dưới ánh nắng mặt trời đang nung đốt,
lác đác một vài trái đạn nổ tung lên những cụm khói nhỏ đen xám lẩn
bụi đỏ...
-Hợp đoàn bay ṿng chờ, hết pháo tụi ḿnh xuống
đáp lại nghe rỏ. Chiếc C@C nhắc nhở.
Năm chiếc trực thăng chúng tôi cùng với những chiếc
của Không kỵ Ḥa Kỳ như một đàn diều đông đảo bay lượn
trên bầu trời hanh nắng.
-Charlie đây Hổ... ( Mảnh Hổ tên gọi trực thăng
vơ trang 215), ḿnh đang chờ ǵ ở đây vậy? Tôi ṭ ṃ hỏi.
-Sĩ quan liên lạc của quân bạn đang trên đường
tới phi trường, ḿnh sẽ làm phi vụ tiếp tế cho căn cứ hỏa lực
vừa bị địch tấn công tối hôm qua. Đ/u Đức trả lời.
Ngày hôm kia tôi cùng phi đội 215 được chỉ thị
đi biệt phái ở Phan Thiết một tuần lễ. Nghe tin đi Phan Thiết anh em tranh
nhau t́nh nguyện nhất là trong biệt đội có mặt Tr/u Thành, cháu của ngài Đại
tá tỉnh trưởng. Anh ta về đó như "Hổ" về rừng, ở trên trời
anh là "Hổ hai" bay theo đuôi Hổ một, nhưng ở dưới đất Phan Thiết
anh là C@C dẩn đầu phi đội đi "bay....bướm". Phi hành đoàn vừa đáp
xuống ngay tỉnh đường đă có xe chờ sẳn mời đi ăn "điểm
xấm" hay hủ tiếu ḿ phở, buổi trưa xe Jeep đón đưa đi ăn cơm
tại những nhà hàng tàu sang trọng, ăn xong c̣n thêm gói thuốc lá dắt lưng. Trong thời
gian tại đó chúng tôi chỉ túc trực ứng chiến tại cư xá tỉnh dành cho khách
vảng lai, pḥng ốc khang trang, ai rảnh muốn đi phố uống cà phê, cà pháo hay thụt
bi da chỉ chỉ việc leo lên xe jeep chừng vài phút là tới. Ở tại thành phố
này có những quán nước sát bên bờ sông cây râm bóng mát rất hửu t́nh, anh em phi hành đoàn
"xum xoe" trong bộ đồ bay súng ống "lỏng dỏng" thường ra ngồi đó
để ngắm mấy em đi qua đi lại. Đó là những khoảng thời gian nhàn
nhả "vui thú điền viên" khó kiếm trong thời buổi chiến chinh.
Sáng ngày hôm nay sau khi biệt đội đi ăn trở về
th́ nhận được tin "sét đánh ngang tai", tất cả hợp đoàn phải thu xếp
hành trang Pleiku trực chỉ, thời gian biệt phái sẽ cho biết sau. Tôi linh cảm đây
là chuyện chẳng lành, một mặt trận nào đă xảy nửa đây? Không có sự
lựa chọn tôi về pḥng thu xếp hành trang, trong ḷng ca câu" thân trai mười hai bến
nước, trong nhờ đục chịu" rồi theo chân hợp đoàn cất cánh. Trên ṿm
trời Phan thiết, bầu không khí thoang thoảng phảng phất mùi mắm ruốc thum
thủm từ hàng trăm hảng sản xuất nước mắm bốc lên, tôi nghiêng đầu
nh́n xuống những xóm làng chài lưới lúp xúp mái ngói đỏ cùng những mái tôn chấp
chóa kế hàng dừa xanh sau bải cát trắng ṿng cung, hàng trăm chiếc thuyền đánh
cá neo san sát trong vùng vịnh nhỏ. Ở đầu bải một ngôi căn gạch màu vàng
nhạt nằm trên ngọn đồi thấp cô quạnh sát mé nước, trên cao trông như
một "lô cốt" tí tẹo, đó là "Lầu ông Hoàng", nơi mà nhà thơ Hàn mặc Tử đă
nhiều lần dắt cô Mộng Cầm ra hóng mát. Điếu thuốc cháy dở trên môi, sợi
khói trắng quyện vào mắt cay xè, tôi chắt lưởi luyến tiếc trở lại
với thực tại, trước mặt những chiếc trực thăng chổng mông
nối đuôi nhấp nhô lên xuống.
Năm con chim sắt bắt đầu hướng về
vùng lửa đạn, để lại sau lưng thành phố yên b́nh ... Theo chỉ thị
mới nhận được trên tần số cho biết chúng tôi phải bay lên đáp phi
trường Phượng hoàng cạnh thị xă Tân Cảnh, tỉnh Kontum để nhận
lệnh hành quân. Sau hơn hai tiếng rưởi đồng hồ, bay đáp lấy xăng
tại phi trường Cù Hanh, Pleiku, hợp đoàn gần đến điểm hẹn. Trên
cao độ hai ngàn bộ, phi trường Phượng Hoàng thoáng hiện trong bầu không
khí rực nắng oi ả.Hợp đoàn giảm cao độ nối đuôi đáp xuống
dọc theo một phi đạo vừa đủ dài cho những phi cơ nhẹ đáp. Gọi
là phi trường nhưng thật ra chỉ là một dải đất rộng nằm trơ
trụi trên một địa thế cao và bằng phẳng, xung quanh toàn cỏ dại vàng
cháy, không một công sự hay nhà cửa nào cả, xa xa chỉ thấy hàng rào kẻm gai vây
bọc. Năm chiếc trực thăng chầm chậm nối đuôi nhau lướt trên
mặt nhựa đường đen tháng năm đă loang lổ. Phía bên phải phi đạo
đă có bảy tám chiếc trực thăng đậu hàng dọc tắt máy cùng hai chiếc
gunships Cobra ḿnh dẹp lép như con cá ch́nh, mang đầy nhóc rockets dử dằn. Đơn
vị Lữ đoàn Không Kỵ của người bạn đồng minh Hoa Kỳ đă
có mặt tại đây không biết từ bao lâu. Tất cả hợp đoàn tắt máy chờ,
tôi chui ra sau khoang tàu nằm và đánh một giấc ngủ say sưa...
Bay ṿng ṿng trên bầu trời địa đầu giới
tuyến, chờ cơn pháo ngưng, tôi ngả người vào lưng ghế nghĩ mệt,
giấc ngủ vừa qua tuy ngắn ngủi nhưng cũng giúp tôi lấy lại sức lực
sau chuyến bay dài từ Phan thiết. Trong mơ hồ tôi suy nghĩ vẩn vơ tới những
cuộc hành quân đă qua, yểm trợ bốc quân, đổ viển thám, tiếp tế,
cuộc hành quân hôm nay chắc cũng không khác ǵ những ngày tháng trước. Nhưng tôi đă
không ngờ rằng cuộc diện bây giờ đă đổi thay, những sôi động
đă ầm thầm biến chuyển ngoài sự hiểu biết cũa một hoa tiêu tầm
thường. Phi vụ ngày hôm nay sẽ là một phi vụ mở màn cho những ngày tháng tới
đối đầu với một trận chiến hoàn toàn khác hẳn những ǵ tôi đă
kinh qua. Tôi sắp bước vào một trận chiến lịch sữ, một trận chiến
kinh hoàng khốc liệt nhất trong chiến trường từ khi bọn Cộng Sản
khởi động xâm lấn miền Nam. Trận chiến được mang danh là "Mùa hè
đỏ lửa" hay là "Trận chiến một trăm ngày".
Tôi sẽ là chứng nhân sống cho những ngày tháng sôi động,
những cuộc giao tranh, thắng bại, dành nhau từng tấc đất, con tàu bốc
cháy nổ tung trên không trung hay ngay giữa phi đạo, những bạn bè thân thương
gảy cánh, ĺa đàn, những giây phút căng thẳng thần kinh đến tột độ,
những phi vụ mạng sống như chỉ mành treo chuông, những trận đại
pháo ào ạt như mưa rào, như thác đổ, những xác người tan nát, cháy nám...Một
mặt trận địch đă dốc hết toàn lực, khả năng gần như đă
kiệt quệ để đánh một ván bài cuối cùng dứt điểm mục tiêu mà
chúng đă kiên tŕ nổ lực bao năm qua, với sự hy sinh hàng trăm ngàn, hàng triệu
sanh linh vô tội đă bị chúng lôi cuốn vào cuộc chiến tranh điên rồ này.
Có lẽ trận pháo mở màn để chào mừng phi đội
215 đă chấm dứt, sau mười lăm phút ḷng ṿng trên không, chúng tôi được lệnh
đáp trở lại phi trường Phượng Hoàng. Tắt máy xong, tôi bước xuống
đi nhanh về hướng Đ/u Đức đang đứng nói chuyện với Đ/u
Vỹ, bay chiếc chở quân. Thấy tôi Đ/u Đức cất tiếng rặt giọng
Trung kỳ:
-Hổ, hồi này mày làm ǵ mà chạy ra giửa phi đạo
vậy, chưa ăn mảnh pháo là may đó. Nói xong anh cười thật tươi đưa
hàm răng trắng đều.
Đ/u Đức người cao ráo, nở nang, khuông mặt
chử điền, rất đẹp trai, chắc có lẽ đă có nhiều em theo chết
mê mệt. Từ ngày về với Thần tượng đến giờ phút này tôi đă bay
nhiều phi vụ vơ trang dưới sự điều động của vị niên trưởng
này. Chung chia rất nhiều kỷ niệm trong thời gian biệt phái Phù Cát, Pleiku, Ba Mê Thuột,
Phan Rang, Phan Thiết... Chúng tôi gần bên nhau, cùng chung giới tuyến, chia sẽ những
niềm vui lớn nhỏ, cũng như gian nguy cực khổ từ đó đă nẩy sinh
những t́nh nghĩa vô cùng sâu đậm.
-Sa .o m.à..y tỉnh ngu..ủ chư.a đó... Đại uư
Vỹ đứng kế lên tiếng chọc quê tôi trong giọng nói nhừa nhựa ê a rặc
tiếng Bắc Nghệ Tỉnh nghe buồn cười. Tại phi đoàn anh em thường
gọi anh là "Cụ Vỷ", v́ thân h́nh thấp thấp tướng đi hơi lom khom cọng
lại thêm giọng nói khàn khàn kéo dài. "Cụ Vỷ" là một đề tài tiếu lâm cho anh
em chọc ghẹo, con người vui vẽ xuề x̣a như đôi khi hơi nóng tánh. Tôi ưa
nói đùa với bạn bè trong những lúc họp mặt, "Nếu tao vào vùng "hot" nghe "cụ
Vỷ" kêu tần số báo cáo có pḥng không của địch, chờ cho "cụ" nói xong th́ tụi
nó đă bắn tao banh xác rồi". Một giai thoại với liên hệ tới "Cụ Vỷ"
nghĩ tới tôi vẩn c̣n "sượng sùng". Lúc c̣n chân ướt chân ráo làm lính mới ṭ
te của phi đoàn, một buổi sáng đang đứng mua một ít đồ lặt vặt
trên đường Nguyển Hoàng cạnh chợ Xóm Mới Nha Trang, tôi vô t́nh gặp một
cô bạn gái đi cùng với một người bạn đi ngang. Sau khi tay bắt mặt
mừng, chào hỏi hai ba câu xong, cô bạn gái tôi hỏi, "Anh ở phi đoàn Thần Tượng
có biết anh Vỷ không?" Tôi nhanh nhẩu, ra điều sành sỏi: " Biết chớ, Trung
úy Trần thế Vỷ ai mà không biết, tụi này kêu là "cụ Vỹ già" đó mà... " Nghe
tôi nói xong bạn tôi mỉm cười, xoay qua chỉ cô gái tóc bỏ ngang vai với khuông mặt
trái xoan dể thương, chưa ngoài hai mươi đang đứng kế bên nảy giờ
im lặng :"Xin giới thiệu với anh đây là " fiance' " của anh Vỹ". Tai lùng bùng, người
đứng sượng trân thiếu điều muốn độn thổ... Tôi gật đầu
chào, miệng lí nhí nói không ra hơi: " Dạ...dạ...chào chị..". Một thời gian sau đó,
một bửa thằng bạn thân gặp tôi ở phi đoàn, anh ta kéo tôi ra một góc pḥng
ghé vào tai tôi th́ thầm nói nhỏ, ra điều đang tiết lộ một chuyện ǵ quan
trọng:" Tao nói cho mày biết chuyện này, để mày cẩn thận, hôm qua không có mày đây
tao nghe "Cụ Vỹ" tuyên bố trước mặt bá quan văn vơ rằng, " Tụi mày nói
lại với thằng H., nó mà c̣n lạng quạng mời con đào tao đi ăn phở
một lần nửa th́ tao bắn bỏ mẹ nó..." Thật là oan ơi ông Địa, tôi
chỉ gặp đào "cụ" có một lần đó thôi làm sao mà có cơ hội mời mọc,
vă lại lúc đó tôi đang ở t́nh trạng "thặng dư" đào "dùng" không "kịp" đâu
đến nổi mà phải đi cửa hậu với người nhà.
Trong khi mọi người đang đứng đấu
láo th́ từ xa bụi đỏ tung mù chiếc xe cam nhông cùng chiếc xe Jeep phom phom chạy
đến. Chiếc Jeep dẩn đầu ngừng ngay bên hông tàu Charlie, vị Đại úy
Dù, đeo giây "ba chạc", đầu đội nón sắt cùng người phụ tá vội
vả nhảy xuống xe, trên khuông mặt lộ vẻ khẩn trương .
-Chào quư vị. Viên đại úy đưa tay lên chào theo cung cách
nhà binh, xong bắt tay từng người:
-Chào Đại úy, sao giờ này mới đến, nằm chờ
ở phi đạo bị tụi nó pháo quá...Đ/u Đức lên tiếng.
-Xin lổi quư vị phi hành đoàn nghe, tôi phải chờ ở
pḥng hành quân lấy thêm chi tiết và điều động xin vài phi tuần khu trục yểm
trợ xong rồi mới ra đây được.
Trong tay cầm mấy bản đồ, vị đại úy
đi ṿng phía trước chiếc xe Jeep, trải rộng tấm bản đồ trên đầu
xe xong đi ngay vào vấn đề:
-Tối hôm qua căn cứ hỏa lực tiền đồn
Sáu đă bị địch pháo kích cả hàng trăm trái hỏa tiển và tấn công nhiều
đợt tới tấp. Quân bạn hiện đang ở t́nh trạng nguy ngập cần
tiếp tế gấp đạn dược, nước uống gấp và chở một
số thương binh về.
-Sao trực thăng Mỹ ở đây làm ǵ mà anh không nhờ
họ vậy đại úy? Đ/u Đức chen vào.
-Tụi tôi đă làm việc với họ sáng hôm nay rồi,
nhưng khi vào đáp bị bắn rát quá nên họ quay trở lại từ chối phi vụ.
Tôi đă xin nhiều phi tuần khu trục dội bom yểm trợ, nhưng địch bám
sát quân bạn quá gần nên khó ḷng. Cứ điểm này có một vị trí chiến lược
rất quan trọng, bất cứ giá nào chúng tôi cũng phải giử, mong quư vị giúp cho
một tay.
Vây quanh đầu xe Jeep, Đ/u Đức cùng Đ/u Vỹ
và mấy hoa tiêu khác chăm chú nh́n vào tấm bản đồ màu xanh nhạt, những ṿng
tṛn cao độ vẽ chằng chịt, cùng những nét bút màu đen đỏ.
-Đây là căn cứ hỏa lực Sáu hiện thời đang
bị địch bao vây áp đảo nặng- viên Đại úy chỉ vào một ṿng tṛn đỏ-
ngay bây giờ chỉ cần hai chuyến chở đồ tiếp tế và chở một
số thương binh về là xong ngày hôm nay. Tôi sẽ cho vài người lính ngồi theo tàu
để phụ. Quư vị có thể nh́n thấy rỏ ràng Tiền đồn Sáu từ đây.
Nói xong anh quay người lại chỉ tay về hướng
Nam của phi trường. Xa khoảng chừng năm bảy cây số rặng núi đứng
sừng sửng nhô cao trên đồng bằng cao nguyên. Dưới ánh nắng chói chan, những
ngọn núi đỉnh cao trọc màu xanh cỏ úa vàng. Trên bản đồ tôi ghi nhận những
ṿng cao độ vẽ h́nh của một rặng núi h́nh cánh cung trên đó những ṿng đỏ
có ghi chú những chử 6, 5, Y, C, D, H, tôi hỏi:
- Đây là những tiền đồn? Tôi chỉ vào nhưng
ṿng tṛn kế tiếp nhau...
- Đúng vậy...kế cận Tiền đồn Sáu xuôi theo
đỉnh núi về phía Nam là Tiền đồn Năm rồi Yanhee, Charlie, Delta và cuối
cùng là Hotel, c̣n rặng núi này Mỷ họ kêu là Rocket Ridge. Tất cả căn cứ hỏa
lực trên dảy núi Ridge này thuộc trách nhiệm của Lử đoàn II nhảy dù, bộ
chỉ huy đóng tại Vơ Định.
Đó là những địa danh mới được đặt
tên của những căn cứ hỏa lực nằm trên những chuổi cao độ chập
chùng vùng trên dăy núi Rocket Ridge khô cằn sỏi đá, nhưng những ngày tháng tới đây
sẽ là những là những địa danh đi vào lịch sữ v́ những trận đánh
bạo tàn, khủng khiếp, dằn co, dành dựt từng tất đất, từng giao
thông hào, máu đổ thành suối...
Mọi người đă sẵn sàng. Chiếc C@C cất
cánh trước, tôi dẩn chiếc gun số hai của Thành "râu" theo sau. Chiếc hai chiếc
slicks đang được quân bạn "load" lên sàn tàu những thùng đạn bằng gổ
và những ống sắt to đựng đạn đại bác bên trong chứa nước
uống từ chiếc xe cam nhông đậu kế bên.
Chỉ trong ṿng năm ba phút là hai chiếc trực thăng vơ
trang đă ở trên đầu căn cứ hỏa lực. Rặng Rocket Ridge hơi cong cong
h́nh cánh cung, đầu cực Bắc cách biên giới Lào-Việt-Miên cở 15 cây số, chạy
đến gần căn cứ Tân Cảnh rồi bẻ cong kéo dài về phía Nam, song song với
QL 14, cuối cùng dừng lại tại phía Tây Kuntom, khoảng chừng 20 cây số.
Trên cao độ cách đỉnh núi chừng ngàn bộ tôi
nh́n xuống Tiền Đồn Sáu, xa xa về phía Nam là Tiền đồn Năm, Yankee, Charlie,
Delta sau cùng là Hotel qua làn hơi nóng mờ ẩn lung linh, nối tiếp nhau trên đỉnh
núi của rặng Rocket Ridge, .
Thận trọng bay ṿng trên cao độ tôi quan sát phía bên dưới,
Tiền đồn Sáu h́nh tam giác màu đất đỏ nằm chơ vơ trên đỉnh,
ngay chính giữa trại, lá cờ vàng ba sọc đỏ nhỏ xíu phất phơ trước
gió, xung quanh đồn triền núi dựng đứng, rừng xanh mọc răng cưa đến
ngang lưng chừng núi là ngừng lại, tiếp nối tới đỉnh chỉ là cỏ
vàng cháy xém....Những vết bom đạn pháo kích lổ chổ khắp nơi, những công
sự chiến đấu vở nát không nhận ra h́nh thù, c̣n ngun ngún khói bốc, hai khẩu
đại bác 105 ly màu đen nổi bật lên trên nền đất đỏ. Sát về phía
Bắc của đồn, gần ngay hàng rào pḥng thủ là một ṿng tṛn bải đáp của
trực thăng, ở giửa một chử H sơn màu trắng c̣n nhận ra lờ mờ.
Tất cả là h́nh ảnh của một bải chiến trường c̣n phảng phất
mùi tử khí, hiện đang yên nghĩ trong sự căn thẳng, ŕnh rập, đe dọa....
-Lead đây Charlie, hai bạn cất cánh lên là vừa rồi,
đáp về hướng Bắc nghe..
Ngồi trên tàu tôi nh́n về hướng phi trường Phượng
Hoàng, hai chiếc trực thăng chở đồ tiếp tế nhỏ như hai con kiến
li ti chạy dài trên phi đạo.
-Hổ cẩn thận...sáng nay trực thăng Mỹ bị
"ground fire" chạy rồi đó. Charlie nhắc nhở.
-Chiếc lead vào trước, chiếc số hai "hold" trên trời
chờ. Đ/u Đức chỉ thị cho hai chiếc "slicks".
-Cha..a..arlie, đây lead.. go..ọi, đa..ang... va...ạ đây ,
H..ổ...Hô..ổ... mày co.o..v.er cho kỷ gi..ù..m chút nghe...
Tiếng nói nhừa nhựa kéo lê thê bằng tiếng Bắc
Nghệ Tịnh nghe trên tần số trong giây phút căn thẳng này, tôi vẩn không nín được
cười... "Cụ Vỹ" đă bắt đầu vào trục đáp, tôi cho con tàu bay bên cánh
phải trên cao phía sau, chiếc gun số hai của Thành "râu" kèm theo bên cánh trái. Chiếc trực
thăng từ từ xuống cao độ, Tiền đồn Sáu phơi bày trước mặt...
-Le..ad đa..ang ở "f i...n..a..l", H..ổ...H...ổ...th.e.o sát
ngh e.e.e..." Ở đàng sau nh́n xuống chiếc lead đang lơ lửng đưa bụng
trên ṿng vây vô h́nh của địch.
Bổng ở đâu đó, tôi nghe vọng tiếng "cóc...cóc...cóc...",
âm thanh quen thuộc của khẩu AK-47.
-Ơ...ơ... H..ô..ổ, ơ..ơ...tụi n..ó bắn tao...Trong
tần số tiếng "cụ Vỹ" la. Lần này tiếng "cóc...cóc..cóc...cóc...cóc...." nổ
tràng dài như bắp rang...
-Oành...Oành...Hai trái pháo rớt trong ṿng rào pḥng thủ, kế khẩu
đại bác 105 ly, bụi đỏ lẩn khói đen bay tung lên.
-Pháo kích, pháo kích. Tôi la lớn...Go around...Go around... Chiếc lead
cắm đầu, đuôi tàu chổng lên gần như dựng đứng lài xuống chân
núi trước mặt. Tức thời tôi bấm nút, những trái rockets thi nhau lao xuống
chung quanh chu vi hàng rào, nổ lốp đốp tung bụi...Bên trái thằng Hổ hai đang
tuôn những lằn đạn lửa minigun vung vải khắp nơi.
-Lead, lead, đây Charlie, Vỹ, anh OK không?...Cho biết t́nh trạng
?...
-Để tô..i ch.e..ck...Sau vài giây im lặng tôi nghe tiếp...Char..li..e..đồng
h..ồ...b́nh thư..ờng chắc khô.ô..ng s...a....o? "Cụ Vỷ" lè nhè dứt đoạn
trên tần số.
Tất cả hợp đoàn bay ṿng chờ trên cao.
-Lead, ráng giúp một lần nửa đi. Quân bạn đề
nghị ḿnh bay "low level" ngang bải, để lính đạp đồ xuống, đừng
đáp nghe, nghe rỏ trả lời... t́nh trạng khẩn trương lắm, tối nay
không có đủ đạn dược, đồn sẽ bị "over run "...ráng giúp họ nghe
lead. Số hai, bạn vào trước đi, để cho lead nghỉ sẽ vào chuyến sau.
Trong tần số, tôi nghe chiếc số hai trả lời cụt
ngủn:
-Nghe năm...!!!
Chiếc số hai bay ṿng chờ trên cao, bắt đầu
vào "final". Tất cả tần số im lặng theo dỏi. Hai chiếc vơ trang bay kè phía sau.
Chiếc số hai xuống nhanh giảm dần tốc độ rồi tiếp tục bay
chầm chậm lướt trên đầu mặt đất lỗ chổ hố pháo kích,
là sát trên hai khẩu 105 ly, trên cao nh́n xuyên qua cánh quạt quay chấp chóa, những thùng đạn
gổ trăng trắng vàng cùng những ống nước màu rêu nhỏ xíu được
đạp vội vă xuống bải, rơi vung vải khắp mặt đất trong ṿng
rào. Xong nhiệm vụ, con tàu trống nhẹ cắm đầu vương ḿnh nhanh lên không
trung. Trên cao chiếc C@C ṿng ṿng quan sát, tiếng Đ/u Đức la to:
-Hai...hai..., sao bạn không chờ chở thương binh ở
bải.
-Tôi đâu có đáp đâu mà bốc họ được, mà
tôi không thấy ai că, họ núp trong công sự tôi không thấy...để chuyến sau đi...
-Thôi được, bạn về đáp Phượng Hoàng "load"
một chuyến nửa, xong báo tôi biết. Tiếng nói Th/đ có vẽ phấn khởi khi
thấy đă đổ được một chuyến hàng cho quân bạn.
-Lead đâu rồi...vào đáp được rồi đó đó...Hổ
ra đem vào đi..
Chiếc lead bây giờ có phần vững dạ hơn khi
thấy chiếc số hai hoàn tất nhiệm vụ an toàn, ṿng lại chuẩn bị hạ
cao độ. Tôi bám theo sau, mắt láu liên đảo quanh chu vi đỉnh đồi hy vọng
phát giác được vị trí nào khả nghi của địch. Kinh nghiệm tôi biết
chắc địch đang chuẩn bị gờm súng chờ đợi con mồi mỏng
manh chậm chạp này, để một chuyến tiếp tế vào an toàn đă làm chúng điên
đầu, sôi máu. Mồ hôi rịn lấm tấm trên trán, tay tôi siết chặc cần lái,
ngón tay để sẳn sàng trên nút bấm rocket.
Con tàu của Đ/u Vỹ đang vào "final", xuống thấp
dần. Tôi nín thở theo dỏi. Chỉ c̣n chừng vài chục bộ nửa là lead ở trên
mặt đồn, chiếc trực thăng bay chậm là sát trên mặt những công sự,
tôi nh́n thấy những người lính lấp ló trong khoang tàu đang chuẩn bị đạp
những thùng đồ.
-Ground fire...Ground fire...tiếng la thất thanh trong tần số,
không phải của Đ/u Vỹ mà tiếng của người hoa tiêu phụ.
Cùng lúc tôi nghe rơ ràng nhiều tiếng gỏ từ nhiều phía:
"Cóc...cóc...cóc..cóc...". Những tiếng "Cóc...cóc...cóc" tiếp tục liên hồi.
Tôi bỗng nghe tiếng la chói lói của Đ/u Vỷ trên tần
số:
-Á..á...ch.ế.t..chê...ết...tô..ô..i rồi.....Chỉ chừng
đó rồi im bặt.
Như có một luồng điện chạy dọc theo xương
sống, tai như nghe rơ từng tiếng đập th́nh thịch của trái tim trong lồng
ngực, tôi nghiến răng hai tay siết chặt cần lái, mắt đổ lửa, ngón
tay cái bấm liên tục vào nút đỏ...xoẹt...xoẹt....xoẹt....những trái rockets
như những mủi tên lữa tranh nhau rời dàn phóng lao xuống triền núi trọc, nổ
ầm..
Dưới thấp, chiếc trực thăng đang phơi
ḿnh trước những lằn đạn của địch, cắm đầu cất cánh
lài xuống triền núi, những tiếng cóc cóc bắn vói theo....
-Lead, lead...nghe không trả lời!
Chiếc lead vẩn im bặt...
Đ/u Đức la to:"Hai Hổ bay theo lead cover..Nghe rỏ..." Trong sự im lặng ngột ngạt căng thẳng, tôi kéo hết
tốc lực cố bám theo chiếc lead.
-Lead đây Hổ, nghe không trả lời...
Vẩn im bặt trên tần số, chiếc lead hướng
về phi trường Phượng Hoàng hạ thấp cao độ.
-Charlie gọi lead nghe không trả lời...
Tôi đă bắt kịp tàu lead, cặp sát bên hông tàu. Nghiêng
đầu nh́n, qua khung cửa ngay ghế bay, trên tấm thép dày chắn đạn, tôi thấy
lấp ló chiếc nón bay của "cụ Vỹ"...
-Hổ gọi, lead... trả lời.
Bổng trên tần số, vang lên tiếng nói người hoa
tiêu phụ :
-Charlie, lead bị bắn nhiều viên trúng tàu, hiện tôi đang
chuẩn bị đáp..., Charlie kêu xe cứu thương ra phi trường giùm...
Tôi cho con tàu đáp ngay sau đuôi tàu Đ/u Vỹ. Cánh quạt
vẩn con quay vu vù, tôi mở cửa phóng xuống đất, trên đầu c̣n đội
helmet, chạy nhanh về phía tàu lead. Trên sàn tàu của đại úy Vỹ một cảnh tượng
hải hùng, người lính bộ binh đi theo phụ nằm soải hai tay, máu đỏ
che gần hết cả khuông mặt, đôi mắt vô hồn mở trừng trừng nh́n thẳng
lên trần, trên sàn tàu máu lênh láng. Tôi ngoảng mặt quay người lại. Đại úy
Vỹ vừa mở cửa bước xuống, máu đỏ tươi ướt đẩm
trên ngực chiếc áo bay màu xám, người bước đi xiêu vẹo, khuông mặt chưa
hoàn hồn. Tôi hốt hoảng:
- Trời đất... chuyện ǵ vậy..? Tôi nói chưa
dứt câu th́ người hoa tiêu phụ mang lon Th/u vừa trên tàu bước xuống, trong
giọng Nam kỳ đặc kẹo, anh ta chen vô:
-"Thầy Vỹ" OK, không sao đâu, máu của anh lính bộ bị
bắn lúc nảy đó. Vừa nói anh vừa lấy tay sửa lại dây nịt đeo khẩu
súng "rouleau" xệ xệ bên hông trông rất "phong độ". Tôi nh́n người hoa tiêu mới
trong cặp kính mát "Rayban", cao ráo đẹp trai, đang kể lại với một giọng
b́nh thản như không có ǵ xảy ra.
-Khi tôi nghe tụi nó bắn như bắp rang, biết không xong
rồi, thế nào cũng ăn đạn, chạy đâu cho khỏi...- Anh ta nói tiếp như
đang kể lại một chuyện phim gay cấn nào đó- Lúc tàu đang bay trên đồn
sắp đạp hàng, tôi nghe tụi nó bắn rần rần từ phía Đông của đồn,
anh lính đang đứng khom khom sau ghế bay "thầy Vỹ" nh́n về phía trước "windshield",
bổng đùng một cái anh ngă nguờii về phía "cockpit", ôm choàng lưng ghế đại
úy, đầu gục trên vai "ông thầy" máu chảy ṛng, tôi nghĩ chắc bị một viên
vô đầu rồi.
"Thầy Vỹ" kế bên có lẽ chưa hoàn hồn, đứng
yên không nói ǵ nghe anh ta kể tiếp:
- Lúc té xuống tôi thấy tay anh ta nắm giựt đứt
sợi giây intercom trên helmet của đại úy, bởi khi Charlie gọi ổng không trả
lời được là vậy...
Chăm chú lắng nghe, tôi quá đổi ngạc nhiên khi không
hề thấy người hoa tiêu mới này không hề tỏ một cảm xúc nào că sau khi
vừa trở về từ cỏi chết. Vừa lúc người hoa tiêu trên tàu tôi đang
bước tới, tôi ngoắc anh lại gần, xong bảo:
-Bạn thông báo với Charlie phi hành đoàn OK, sẽ check tàu
và báo cáo chi tiết đầy đủ sau.
Xong tôi quay lại nh́n đại úy Vỹ, anh đang cúi đầu
nh́n xuống chiếc áo bay bây giờ máu đă sậm màu:
-Mẹ...tiê..ên...sư cha..a chú..ng nó.., khô..ng biết giặt
c..ó sạch máu..không đây? Ta..o đem the..o có hai bộ đồ, khô..ông biết co..̣n ở
đây bao la..âu.....Đại úy Vỹ vừa nói vừa cúi xuống nh́n vào chiếc áo bay đang
bận trên người. Tôi không dấu được sự kinh ngạc:
-Trời đất ơi, "ông Thầy" ơi, chết sống
đây không lo, lo chi bộ đồ bay giặt không sạch.
Bổng nghe tiếng trực thăng đang chém gió kêu "phành
phạch" trên cao tôi ngững lên nh́n, chiếc Charlie bay vù nhanh ngang trên đầu phi đạo...
Từ chổ chiếc xe cam nhông chở đạn, chiếc Jeep của bộ binh lăn bánh
chạy đến ngừng lại kế chúng tôi, trên xe người lính Dù nhảy xuống.
-Đại úy Đức bảo hợp đoàn cất cánh về
Pleiku trước đi. Tàu ông phải đáp Vơ Định thả người sẽ về
sau.
Tôi quay người hướng về Tiền đồn
Sáu nh́n, rặng núi b́nh thản phơi ḿnh trong nắng chiều, trên cao hai chiếc khu trục
cơ nhỏ tí đang vần vũ nhào lộn, xa mải tít trên cao nữa ba chiếc pháo đài
B-52 như ba chấm đen bay lặng lẽ trên ṿm trời xanh kéo theo sau đuôi những đường
khói trắng....( c̣n tiếp)
|
| Subject: |
Đời Phi Công Trực Thăng : Mùa Hè Đỏ Lửa (2)- Người ở
lại Charlie |
|
| Author: |
vincent |
|
Lời người viết: Vùng cao nguyên bổng dưng sôi động,
những cánh chim sắt của phi đoàn Thần Tượng bất chợt bị cuốn
lốc trong cơn bảo của trận chiến bất ngờ. Những ngày hành quân liên tục
trên những địa danh xa lạ chưa từng biết đến của vùng rừng
núi địa đầu giới tuyến đă gây nhiều ấn tượng sâu đậm
trong ḷng một người trai thời loạn. Tôi xin ghi lại đây một vài h́nh ảnh,
kỷ niệm của những tháng ngày dài rong ruổi trên chiến trường đẩm
máu, cũng như những phi vụ kinh hoàng mà những người chiến sĩ Không Quân
đă âm thầm lặng lẽ ra đi không ai nhắc nhở.
Một chút ǵ để nhớ đến những cánh chim
Thần Tượng gảy cánh trên ṿm trời Tây Nguyên:
Tr/u Phạm Thành Rinh, Th/u Vơ Diện, Trung úy Nguyễn Tường
Vân, Tr/u Trần văn Long cùng các mê vô xạ thủ Linh, Thông, Lan, Phiệt...
Ghi chú: Cấp bậc cũa những nhân vật trong bài viết
không hẳn là cấp bậc cuối cùng của họ cuộc chiến tranh Việt Nam.
Người ở lại Charlie
Ngày 12 tháng 4 năm 72
Này anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie Anh! Vâng, chính anh là loài chim quư Ôi, cánh chim
trùng khơi vạn lư Một lần dậy cánh bay Người để cho người
nước mắt trên tay...
Một buổi chiều miền Tây nguyên, một buổi
chiều sau một ngày sôi động chiến tranh của "Mùa hè đỏ lửa". Bầu
không khí bắt đầu quyện đục sương đêm ḥa lẫn khói rừng âm ỉ
cháy, phảng phất khen khét đâu đây mùi thuốc súng...Ánh nắng vàng nhạt c̣n vương
vấn trải dài trên những triền núi xa xa...
Hai chiếc trực thăng vơ trang của Phi đoàn Thần
Tượng trên đường về căn cứ Cù Hanh sau một ngày nhào lộn trên chiến
trường nóng bỏng. Trong cockpit Th/u Nguyển Thanh Hùng im lặng cầm cần lái, đôi
mắt đăm chiêu trên khuôn mặt thể hiện một nét mệt mỏi. Ngồi bên
cạnh tôi uể oải dựa ngửa đầu vào lưng ghế bay nh́n xuống Quốc
lộ 14 chạy lùi dưới chân. Đây là con đường huyết mạch nối liền
Kontum và thị trấn Pleiku chạy giửa vùng núi rừng xanh thẳm. Dọc theo hai bên đường
được khai quang trống trải để đề pḥng những cuộc phục
kích của Việt Cộng, những người Thượng lưng đeo chiếc gù đầy
củi đang lầm lủi bước nhanh cố tranh thủ với bóng đêm đang chầm
chập tới. Một vài người ngững đầu lên đưa tay vẩy chào hai con
tàu đang lướt qua trên đầu. Phía bên trái ngọn núi Chu Pao đứng sừng sững
nh́n xuống QL 14 như một vọng canh chiến lược thiên nhiên , nơi đây sẽ
khởi chiến những trận đánh đẩm máu của ta và địch trong những
ngày sắp tới để dành chủ quyền kiểm soát con đường huyết mạch
này. Xa xa một đoàn xe "công voa" nhà binh mở đèn pha chạy nối đuôi nhau chạy
ngược về hướng Kontum. Con đường xa lạ này giờ đây nó đă
trở thành một h́nh ảnh vô cùng quen thuộc với những con chim sắt ngày ngày tung
cánh lao đi vào vùng lửa đạn.
Sau phi vụ tiếp tế đẩm máu mở màn tại
Tiền đồn Sáu, kế cận phi trường Phượng Hoàng, Tân Cảnh, phi đoàn
215 Thần Tượng đă được lệnh tăng phái lên Pleiku để yểm
trợ cho mặt trận vùng cao nguyên. Nguyên phi đội được chỉ định
ở trong một trong những barracks của Mỷ để lại trong phi trường
cạnh một sân cỏ rộng, ở đó đậu tạm những chiếc trực
thăng của biệt đội trong giai đoạn hành quân. Trong linh cảm, tất cả
nhân viên phi hành đều biết rằng sẽ phải đối đầu với một
trận chiến khốc liệt và có thể kéo dài.
Phi trường Cù Hanh càng ngày càng
bận rộn theo mức leo thang của chiến cuộc, sự sinh hoạt tại căn
cứ mang một màu sắc nghiêm trọng khẩn trương hơn. Đứng trên tầng
hai của biệt đội nằm trên một vùng đất khá cao, tôi có thể quan sát mọi
sự hoạt động của phi trường vào mổi buổi sáng sớm. Trên những
con đường những chiếc xe pick-up màu xanh chạy vội vă chở đầy phi
công; những người lính Không quân hối hả trên những chiếc xe gắn máy phóng
đến phần sỡ cho kịp giờ; những hàng gánh rong bán thức ăn sáng rộn
rịp ở những góc đường. Ngoài phi đạo máy bay sắp hàng để chuẩn
bị cất cánh lên vùng, những chiếc khu trục thô kệch nặng nề, đeo đầy
bom tiếng máy rú lên như con thú dử, những chiếc máy bay quan sát mảnh mai như con
hạc trắng nhẹ nhàng cất cánh lên không trung, mấy chiếc vận tải C-123, C-130
to lớn đậu trên "Tarmac" kế những "hangar" khổng lồ, cửa cargo sau đuôi
tàu mở rộng, những kiện hàng nằm ngổn ngang. Tại mấy ụ đậu
trực thăng, tiếng quay máy o..o...o...của những động cơ bán phản lực
cùng tiếng chém gió "phần phật" của những chiếc tàu đang lơ lững trên
"taxiway" càng làm cho không khí thêm sôi động.
Vào những giờ ăn tại câu lạc bộ của Không
Đoàn đầy người đủ mọi thành phần của các binh chủng. Hoa tiêu
trong những bộ đồ bay tác chiến đủ kiểu, từ bộ đồ nomex
hai mảnh của những hoa tiêu trực thăng, đội nón rằng ri như lính Lôi hổ,
đến những phi công khu trục với bộ đồ bay cam, xám hay kaki, cùng những
người không phi hành ngồi tụm năm tụm ba trên bàn, trên khuôn mặt mọi người
thể hiện lên nét khẩn trương phản ảnh một cuộc chiến đang đi
vào giai đoạn quyết liệt.
Từ đầu năm 72 đến trung tuần tháng 3,
địch đă đủ thời giờ dàn trận và bố trí ở những mặt trận
mà chúng đă chọn, và đến bây giờ là giai đoạn tổng công kích. Quân đội
VNCH bị ở trong thế cờ thụ động, ḍ dẩm nghe ngóng hoạt động
của địch. Không lực của Đồng Minh cũng như Việt Nam liên tục
ngày đêm oanh tạc những điểm tập trung của địch để tiêu hủy
tiềm năng của Cộng Quân trước khi chúng thực sự tổng tấn công. Riêng
về hoạt động của các phi đoàn trực thăng đa số là tiếp tế
cũng như đổ toán Lôi Hổ để thám sát, ḍ t́m tin tức sau pḥng tuyến của
địch. Những phi vụ bay gần vùng biên giới thường đem lại cho phi
hành đoàn những cảm giác căng thẳng nếu không nói là lo ngại v́ sự hiểm
nghèo của nó.
Những phi vụ trong thời gian biệt phái tôi đă trải
qua những kinh nghiệm vui buồn khó quên trong cuộc đời bay bổng. Nhớ lại
một phi vụ thi hành khi sương mù đang c̣n lăng đăng trên đầu ngọn cây, hai
chiếc gunship trong đội h́nh tác chiến, hướng về vùng biên giới, bay trên mặt
rừng cây trùng điệp, tinh thần tập trung né tránh những bải cỏ trống
hay rừng thưa, bổng trước mặt một tàng cây đại thụ nổi bật
nhô cao lên xuất hiện trước mủi tàu, loáng thoáng dưới tàng cây rậm năm
bảy bóng đen di động làm lung lay cành lá, giật ḿnh tôi kéo ngược bật cần
lái né tránh, con tàu bay vút lên cao... Tim đập th́nh thịch tôi la:" Trời đất....,Việt
cộng..., tụi mày thấy không...mẹ...làm tao giật cả ḿnh...". Người hoa tiêu
phụ quay nh́n tôi khuôn mặt lộ vẽ rất ngạc nhiên, buộc miệng: " Việt
Cộng ở đâu ông, khỉ đó, một đàn khỉ đu trên cây tôi thấy rơ ràng".
Tôi cắt lời: "Bạn nói cái gi? Tao thấy năm bảy đứa bận đồ đen
đang ŕnh mà bạn nói là khỉ". Không đồng ư với người hoa tiêu phụ tôi quay
ra phía sau hỏi hai anh mê vô xạ thủ:" Tụi mày thấy ǵ? Tao thấy rỏ ràng lố
nhố mấy thằng bận áo đen đang đeo trên cành cao. Bố chúng nó! Làm tao hết
hồn..." Mấy anh xạ thủ sau nhe miệng cười:" Ông giật cần lái làm tụi
tui hết hồn th́ đúng hơn, một bầy khỉ đó ông à, tụi này thấy rơ ràng
mà". V́ địa thế mặt rừng dày đặc vùng cao nguyên địch thường
cho những khinh binh leo lên cây cao hay làm những cḥi nhỏ trên đọt cây để quan sát
sự di chuyển cũng như những hoạt động của máy bay và đôi lúc chúng
cũng dùng súng trường để bắn sẻ vào những chiếc trực thăng bay
ở độ thấp. Đến đây th́ tôi mới biết rằng ḿnh lầm, hồn
vía trở lại
Trong một chuyến bay thả toán khác, sau khi thi hành xong phi
vụ yểm trợ để thả một toán Lôi Hổ kế cạnh con đường
ṃn Hồ Chí Minh, trên đường trở về, trên mặt vùng rừng già dày đặc
th́nh ĺnh trước mặt mủi tàu một bải cỏ xanh rộng hiện ra, ngay góc rừng
một khẩu pḥng không được ngụy trang bằng những cành lá dây leo, nấp sát
b́a cây cao, ṇng súng đen ng̣m to chỉa thẳng lên trời. Mặc dù đă xông pha trận mạc
qua nhiều năm tôi vẫn không làm sao tránh được cái cảm giác bị giật ḿnh
làm tim đập mạnh khi gặp một yếu tố bất ngờ. Đây là lần đầu
tiên tôi được chứng kiến một khẩu súng cao xạ cở lớn trong khoảng
cách quá gần. Phản ứng đầu tiên tức th́ tôi quẹo gắt phía bên phải để
né bải cỏ trống . Địch và chúng tôi đều bất ngờ đụng độ,
hai bên không có th́ giờ để phản ứng. Đó cũng là một đều may mắn
cho phi hành đoàn. Tôi cho con tàu bay hướng về phía Nam. H́nh ảnh khẩu pḥng không nằm
ở góc rừng như đang ngạo nghể thách đố... Trước đây không lâu
anh Phạm Thành Rinh, một người bạn chí thân của tôi cùng chung phi đội vơ trang
215, và hoa tiêu phó Vơ Diện đă bị bắn nổ tung trên bầu trời mịt mờ khói
lửa cũa Vơ Định, Tân cảnh. Rinh đă cùng phi hành đoàn thảng thốt ra đi,
không kịp nói một lời trên tầng số. Tôi đă mất một người bạn,
một nghệ sĩ với cây đàn...Giọng hát ngọt ngào trầm ấm anh thường
tŕnh diễn trong những buổi dạ vũ của PD c̣n văng vẵng bên tai:
Em đến bên tôi một chiều khi nắng qua rồi...Nắng
ngừng bên chiếc cầu biên giới...
Xa xa tiếng đàn trầm vô tư...Đâu đây dáng huyền
bền duyên mơ...
Bên cầu biên giới...Tôi lặng nghe ḍng đời từ
từ trôi...
Anh Rinh đă vỉnh viễn ra đi,
thân xác anh đă trở thành cát bụi trên vùng trời biên giới, anh không c̣n hiện hửu
để "lặng nghe ḍng đời từ từ trôi...". Anh và tôi chỉ có hai người
được chọn về với phi đoàn 215 trong tất cả các bạn cùng khóa. Anh
ra đi v́ khẩu pḥng không oan nghiệt. H́nh ảnh đau thương trở lại trong
tâm trí, máu huyết trong người tôi sôi sục, tôi muốn quay trở lại ngay để
trút lên đầu địch những hận thù chất chứa. Nh́n lại khả năng
và vũ khí giới hạn trong tay, trực diện đối đầu với khẩu pḥng
không này quả là một sự điên rồ. Những sách vở kiến thức học ở
trường bay chưa bao giờ dạy chúng tôi những chiến thuật, chiến lược
để đối phó với hoàn cảnh này. Trực thăng vận quá mới mẽ đối
với chiến tranh Việt Nam. Những hoa tiêu trực thăng của VN chỉ được
dạy kỷ thuật bay bổng, ngoài ra họ phải tự học hỏi lấy qua những
kinh nghiệm bản thân để đối phó với mặt trận càng ngày càng leo thang.
Khẩu cao xạ pḥng không vẩn đang chờ đợi.
Tôi chợt nhớ trong sách lược của Khổng Minh đă có nhiều mưu kế để
hạ kẻ thù và một phương thức tôi chợt nghĩ đến là chiến thuật
"Dương Đông kích Tây". Nếu tôi cho chiếc gun số hai bay ṿng ṿng sát đầu ngọn
cây phía Bắc của địch, tiếng động cơ ồn ào cùng tiếng chém gió "phành
phạch" của chiếc trực thăng sẽ gây sự chú ư của tên xạ thủ pḥng
không và sẽ quay hướng ṇng súng phía Bắc chờ đợi. Bay nhanh sát trên đầu
ngọn cây từ hướng Nam lên, tôi sẽ bất ngờ đột kích. Khẩu cao xạ
nặng nề sẽ không kịp quay họng súng về hướng Nam để kịp tác
xạ. Nếu sự suy luận của tôi đúng, tôi chỉ cần vài ba giây ngắn ngủi
đó để hoàn tất sứ mạng,
Tôi liều lĩnh thực hành ư định. Hai chiếc gunships
chúng tôi chia tay nhau, chiếc số hai thi hành nhiệm vụ "dương Bắc", tôi ở lại
chờ đợi sứ mạng "kích Nam". Không đầy một hai phút sau chiếc gun số
hai báo cho biết đă đến vùng. Thời cơ đă điểm, không một giây chậm
trể, tôi lao con tàu về hướng khẩu pḥng không. Chiếc tàu cắm đầu chúi
mủi lướt vùn vụt trên đầu mặt rừng già gợn sóng nhấp nhô như
mặt biển xanh. Chỉ c̣n cách bải cỏ một khoảng ngắn, tôi kéo ngược
cần lái, con tàu tức khắc ngóc đầu lên cao như con rắn hổ phùng mang trợn
má trước khi mổ vào đầu địch. Xoẹt...Xoẹt...Xoẹt... Mười
bốn trái rockets vội vă thi nhau rời con tàu lao thẳng tới dàn pḥng không ẩn hiện
trong đám cây góc rừng. Những tiếng nổ ầm vang dội núi đồi, bụi
mù xen lẩn cành lá bay tung tóe khắp nơi. Tai nghe loáng thoáng tiếng cóc cóc đâu đó cũa
những khẩu AK-47, tôi không c̣n th́ giờ để nh́n thành quả, một tay đè mạnh
cần cao độ, tay kia bẻ ngoặc cần lái, chiếc trực thăng tức thời
nghiêng ḿnh lài xuống về phía bờ cây cao. Trước sự ngở ngàng của địch
quân con tàu chỉ xuất hiện năm ba giây rồi vụt biến mất dạng trên mặt
rừng mênh mông, theo sau chiếc Hổ hai sát nhập lại nối đuôi nhau như hai con
rắn độc hạ thủ xong lủi vào bụi cây rậm...Trên đường trở
về căn cứ, tôi h́nh dung một nụ cười mản nguyện đang nở trên
môi của Rinh nơi chín suối...
-Mănh Hổ, Charlie...Hai bạn ở đang ở đâu, cho
biết vị trí. Tiếng nói của Th/T Phạm Bính, phi đoàn trưởng của phi đoàn
215 đột ngột vang trong tần số VHF.
Ngạc nhiên khi nghe vị phi đoàn trưởng gọi tôi
trong giờ phút này, tôi trả lời:
-Charlie đây Hổ...c̣n chừng mười phút nữa đáp
Pleiku...
-Tôi vừa nhận được tin tức mới nhất,
Căn cứ hỏa lực Charlie đang bị tấn công nguy kịch, t́nh trạng rất
nguy ngập, quân bạn đang cần sự yểm trợ của tất cả những
phi cơ nào đang có mặt trên vùng. Hai Hổ quay lại vùng Vơ Định, hiện tôi đang
có mặt tại đây với bộ chỉ huy Dù, hai bạn lúc nào đến cho tôi biết,
sẽ có chỉ thị.
Vừa nghe Charlie dứt lời trên tần số Th/u Hùng quay
sang nh́n tôi xong buột miệng:
-Trời đất.., trể quá rồi tới đó là quá tối
thấy đường đâu mà đánh. Trước thái độ của Hùng, tôi biết
anh đă quá mệt mỏi sau một ngày dài, nhưng không có một sự lựa chọn, tôi
trả lời C@C:
-Hổ nghe năm..., quay lại Vơ Định. Nói xong tôi ra dấu
tay cho Hùng quay đầu con tầu trở lại hướng Bắc, sau lưng chiếc Hổ
Hai bám sát. Quay nh́n bên ngoài, bầu trời mập mờ không c̣n bao lâu nữa th́ tối hẳn.
Ḷng dấy lên một niềm e ngại, chưa bao giờ tôi thực sự tham dự một
trận đánh đêm trong vùng rừng núi cao nguyên này cả. Tuy nhiên theo chỉ thị của
cấp trên, tôi phải tuân lệnh. Tôi vổ về người hoa tiêu bạn:
-Ráng tí đi Hùng, có lẽ ḿnh sẽ đánh vài "pass" rồi về
thôi.
Trong phi đoàn anh hoa tiêu phụ của tôi có biệt danh là
"Hùng kiềng", chân anh hơi cong cong, anh có tướng đi khệnh khạng như "cao bồi"
cởi ngựa. Anh tánh bộc trực có ǵ nói nấy, lại có tội hơi lè phè. Tôi c̣n nhớ
một buổi sáng đang mơ màn nằm ngủ trong pḥng bỗng nghe vẳng vẳng tiếng
đồng hồ báo thức của ai reo dai dẳng, liên tục. Tôi ngồi dậy bước
ra khỏi gường, ngang pḥng Hùng thuê cách tôi một căn, tiếng reo vang rền, tôi đẩy
nhẹ vào cửa không khóa...Hùng đang nằm ngữa ḿnh trần trùng trục mồ hôi đổ
nhễ nhại, hả miệng gáy o...o...Hoa tiêu phụ có bổn phận phải có mặt
trước để check tàu, trưởng phi cơ sẽ ra sau. Chiếc đồng hồ
điện báo thức réo rắt từ sáu giờ sáng đến quá chín giờ mà anh vẩn
c̣n ch́m đắm trong giấc ngũ say.
Hùng là một hoa tiêu phụ bay với tôi rất nhiều phi
vụ và đă chia sẻ với tôi nhiều giây phút đáng nhớ. Một lần trên đường
bay ra Phù cát, giao tay lái cho Hùng xong tôi ngồi dựa ngữa vào lưng ghế, mắt nhắm
lại nghỉ mệt. Trong tiếng máy nổ đều đặn, con tàu rung nhẹ dần
đưa tôi vào "chốn lăng du"... Đang phiêu diêu nơi "chốn tang bồng" con tàu chợt
rung động mạnh, tôi hé mở mắt ra nh́n: tất cả xung quanh con tàu bao phủ một
màu mây trắng xóa, không biết đâu là trời đất... Mơ mơ màng màng, tôi tự
hỏi, " Tàu bị lọt vô mây..., ai đang cầm lái đây?...Vertigo ? ". Những tư tưởng
mơ hồ loáng thoáng trong đầu như tia điện làm tôi tỉnh hẳn người.
Hốt hoảng tôi ngồi phắt dậy, tay chụp vội cần lái la to, " Ê...,ê...,chết...,chết..chết...."
vừa chưa nói hết câu, đột nhiên bầu trời trở lại trong sáng, dưới
chân mặt biển xanh ngát một màu. Con tàu vừa bay xuyên qua một đám mây nhỏ. Sượng
sùng tôi trả cần lái lại cho Hùng...Cũng nên biết trực thăng thường bay
VFR (Visual Flight Rules), chun vô mây là điều bất khả kháng.
Cuộc đời hoa tiêu trực thăng gian khổ, năm
tháng đương đầu với nhưng giờ bay dài đăng đẳng. Một
ngày ngồi trên chiếc ghế bay bảy tám tiếng là chuyện thường khi hợp đoàn
phải di chuyển cả tiểu đoàn bạn vào vùng hành quân. Ngồi trên ghế chai cả
mông, mồ hôi đổ ướt đít đến mọc mụn.
Một lần khác trên thung lũng "Buôn Ḿ Gà" vào buổi trưa
hè nắng gắt, hai chiếc guns bay ṿng trên trời chờ hợp đoàn trở về bốc
thêm quân, Hùng cầm cần lái tôi ngửa đầu vào lưng ghế nghỉ rồi ngủ
thiếp đi. Bay ṿng chờ trên cao, mổi khi con tàu hướng về phía mặt trời,
ánh nắng dọi thẳng vào mặt nóng như thiêu đốt, bỗng dưng đưa
tôi vào một cơn ác mộng, mơ thấy con tàu đang bị bốc cháy dữ dội,
lửa ngọn lan tràn đến cockpit hốt hoảng tôi ngồi nhổm dậy la làng: "Cháy...cháy....cháy...".
Mở mắt ra, tim đập th́nh thịch tôi ngơ ngác nh́n khoang tàu, mọi sự vẩn
b́nh thường, bên ghế trái "Hùng kiềng" đang im lặng miệng ph́ phèo điếu
thuốc lá trố mắt nh́n tôi ngạc nhiên, rồi bật cười lớn...Biết là
hố, tôi lấy tay áo quẹt lau mồ hôi đổ hột trên mặt, sửa lại thế
ngồi, xong lui cui móc điếu thuốc lá châm hút, nh́n ra ngoài trời xanh, mây trắng không
nói một lời...
-Sao ông thầy ḿnh cần load thêm đạn không? Tiếng
nói của Hội xạ thủ hỏi tôi.
-À...thôi có lẽ c̣n chừng đó xài đủ rồi, để
coi t́nh trạng như thế nào đă. Chắc không lâu đâu, đánh vài ṿng rồi về,
tối rồi.
Phía sau tàu Hội xạ thủ đang ngồi bệt trên sàn
lúi húi sửa khẩu súng bị kẹt, chiếc áo bay phập phồng gió lộng trong khoang
tàu mở cửa. Anh Song mê vô ngồi trên thùng đạn đang ưu tư nh́n vào khoảng
không. Một niềm cảm xúc dấy lên trong ḷng thương cho những người bạn
đồng hành gần gủi qua bao nhiêu năm chung chia tất că những vui buồn khổ
cực. Trong những giây phút mạng sống như chỉ mành treo chuông trên mặt trận
họ cũng hứng chịu không khác ǵ hoa tiêu, nhưng họ đă không được đề
cao hay tưởng thưởng tương xứng với những ǵ họ đă đóng
góp. Phi đội trực thăng vơ trang trong phi đoàn chỉ là một nhóm nhỏ, rất
thân t́nh gần gủi với nhau, anh em biết tánh t́nh từng người một. Tr/s Song
xạ thủ theo đạo Phật, theo tôi biết anh kỵ sát sanh, một con kiến anh
cũng không muốn giết vậy mà tôi không hiểu tại sao anh lại xin vào phi đội
trực thăng vơ trang. Trong một phi vụ phía Bắc Gia Nghĩa, đang bay quan sát băi đáp
ở độ cao vài trăm bộ, bất chợt một tên VC từ bụi cây giữa
bải cỏ trống phóng như cắt hướng về b́a rừng. Tôi hét lớn: "Song,
Song...bắn...bắn...." Hàng ngàn viên đạn tuông ra từ ṇng súng cày lên mặt đất
tung tóe xung quanh tên VC. Đạn vẩn tuôn ra như mưa Bấc, tên VC vẩn chạy mải
đến gần b́a rừng. Tay kềm con tàu, theo dỏi diễn tiến qua khung cửa,
tôi điên "tiết vịt" lên lắc mạnh cần lái, con tàu chao đảo. Tôi hét: "Hội...,Hội..Hội...qua
bên này bắn đi... nhanh lên..., coi chừng nó chạy mất...bắn như con c...". Nhưng
đă quá muộn tên VC đă biến mất dạng dưới những tàng cây rừng rậm
rạp...Tôi lầm bầm một ḿnh trong intercom:" Mẹ...sợ sát sanh mà đ̣i đi bay guns..."
-Hổ tới đâu rồi, báo cáo...Giọng nói của Th/T
Bính nghe trên tần số.
-Chừng vài phút sẽ đến Vơ Định, OK, tôi thấy
Charlie rồi....
Cao trên thung lũng đậm màu đêm xuống bên con sông Pokor
uốn khúc phía Tây QL 14, chiếc trực thăng C@C như một chấm đen trong bầu
trời sẩm tối . Phía Đông là căn cứ chỉ huy Vơ Định của Lữ Đoàn
2 Dù nằm sát con lộ, phía Tây là rặng núi Ridge cao mờ mờ ẩn hiện.
-Hổ "hold" chờ phía Đông đồi Charlie, bạn sẽ
cùng bốn chiếc gunships của phi đoàn 235 và 229 vào yểm trợ, chừng vài phút nữa
họ sẽ có mặt....
Tôi cho con tàu bay ṿng về phía Đông dăy núi trọc nh́n xuống
cụm đồi pḥng thủ của đồn Charlie h́nh yên ngựa. Từ cao tôi có thể
thấy những trái đại pháo liên tục rớt trên mặt đất của đồn,
nổ tóe lửa trong ánh hoàng hôn mờ ảo, trông lập ḷe chớp lóe như pháo bông. Căn
cứ hỏa lực này giờ hầu như đă thành b́nh địa, những công sự
pḥng thủ bị pháo nát, ḥa lẫn với đất cát không nhận ra h́nh hài.
Tại căn cứ này, địch đă dùng chiến thuật
công đồn đả viện, tiền pháo hậu xung. Chúng tiêu hao tất cả những
tiềm lực chiến đấu của quân bạn bằng những trái đạn đại
pháo, những trái đạn nổ chậm chui xuống đất rồi nổ tung phá nát
hầm sâu. Một mặt chúng ngăn chặn nguồn tiếp tế duy nhất là trực
thăng bằng những khẩu pḥng không bố trí xung quanh đỉnh núi hay những trái
pháo đă được điều chỉnh sẵn nhắm vào bải đáp.
Trong bóng chiều tà, từ đỉnh đồi Charlie nh́n thẳng
xuống tới chân núi phía Đông tôi vẩn c̣n nhận rỏ một khoảng đất
cỏ cháy xém, ngay chính giữa là một khối sắt đen, kế bên là một khúc đuôi
trực thăng c̣n nguyên nằm lật ngược. Tất cả đó là những ǵ c̣n sót
lại của một con chim sắt thuộc phi đoàn Thần Tượng đă găy cánh cách
đây mấy ngày. H́nh ảnh c̣n mới mẽ của phi hành đoàn thân yêu đă ra đi trong
bất ngờ, trong thảng thốt như một cuốn phim kinh hoàng bừng sống lại
trước mắt tôi...
Mười giờ sáng hôm đó, năm phi hành đoàn Thần
Tượng đáp tại bộ chỉ huy Dù ở căn cứ Vỏ Định, sát phía
Đông QL 14. Chiếc Charlie do Th/t Khuu Văn Phát, phi đoàn phó, cầm lái. V́ Lữ đoàn Dù
chỉ đóng quân tại những căn cứ cố định trên những tiền đồn
cao điểm nên những phi vụ thường là tản thương hoặc tiếp tế.
Năm chiếc tầu đă tắt máy, tôi bước xuống
đi lững thững vào bộ chỉ huy dọc theo hàng rào kẻm gai con đường
đất đỏ quanh co. Những chiếc lều dă chiến màu xanh cứt ngựa thật
lớn, trên nóc đầy những cột "ăn ten" chĩa thẳng lên trời, không xa đó
đặt vài khẩu trọng pháo thỉnh thoảng nổ đ́ đùng... Ṿng vo một khoảng
nửa th́ tôi đến căn trại của bộ chỉ huy Lữ Đoàn II Dù. Tôi bước
vào lều, Th/T Phát đă có mặt với một vài vị sĩ quan bạn ngồi kế
bên một cái bàn dài trải những tấm bản đồ xanh lơ. Kế đó Trung Tá
Đặng Duy Lạc, một hoa tiêu A-37, Không đoàn Trưởng KD62/CT tại Nha Trang, đang
nói chuyện với một sĩ quan cấp tá Dù. Sự hiện diện của Tr/T Lạc
làm cho tôi rất ngạc nhiên. Tôi vừa đưa tay chào theo cung cách nhà binh vừa bước
đến gần bên Th/T Phát kéo chiếc ghế trống ra ngồi, xong tôi ghé sát vào tai Th/T
Phát hỏi nhỏ: " Ông Tr/T Lạc làm ǵ ở đây vậy? ". " À, ổng chỉ lên thăm
và ủng hộ tinh thần anh em thôi, chiều ông về lại Nha Trang rồi". Th/t Phát trả
lời xong nói tiếp:" Ngồi tí rồi ḿnh đi, sáng hôm nay chỉ có hai phi vụ tiếp
tế cho Charlie. Bạn c̣n nhớ vụ tôi bị bắn ở Tiền đồn Sáu không?
Pḥng không đây nặng hơn nhiều, Hổ cẩn thận". "Thầy quá may đó, nh́n chiếc
tàu bị bắn, tôi không hiểu sao Thầy về kịp đáp Phượng Hoàng an toàn được".
Tôi đáp lời . Nhớ h́nh ảnh chiếc trực thăng khi đem về căn cứ,
viên đạn 12 ly 7 xuyên qua sàn tầu, đâm lủng b́nh xăng đi thẳng lên làm một
lỗ lớn trên trần tàu rồi bay thẳng lên trời, may viên đạn trúng tàu không phải
là đạn lửa không th́ con tàu sẽ nổ tan xác pháo. Tôi cảm thấy cuộc đời
bay bổng của hoa tiêu trực thăng thật mong manh, mạng sống như chỉ mành
treo chuông, trong những trận chiến sôi động này, tương lai chỉ đếm
từng ngày một.
Ngồi nói chuyện đôi ba câu xong, tôi đứng dậy
bước khỏi lều hút thuốc lá. Trong ánh nắng chói chan, tôi để tầm mắt
về hướng Tây, dăy núi Rocket Ridge đứng sừng sững bất động dưới
bầu trời xanh. Đă mấy ngày nay tin tức cho biết Cộng Quân đang áp đảo
căn cứ trên đỉnh núi, cố t́nh muốn dứt nọc trước khi tổng tấn
công vào vùng Tân Cảnh, dưới trách nhiệm của Sư Đoàn 22 bộ binh. Những
viên đạn đại pháo 130 ly, những trái hỏa tiển 122 ly cùng với những súng
cối 82 ly ngày đêm không ngưng nghỉ rót vào những căn cứ hỏa lực.
"Lẹ đi, tao đá cái chết mẹ bây giờ! ". Đang
đứng dựa gốc cột dưới căn lều dă chiến bộ chỉ huy, tôi
quay lại thấy một anh Tr/s Dù, đầu đội nón "bê-rê" đỏ đi kế
bên một thằng bé cở mười sáu tuổi mười bảy tuổi, bận bộ
đồ màu xanh cứt ngựa của lính chính quy Cộng Sản, tóc tai bơ phờ, mặt
mày ngơ ngáo. Thấy tôi anh ngừng lại chào, tôi hỏi: "Anh đem nó đi đâu vậy?".
" Dạ, tôi đưa nó đi cầu", xong anh nói tiếp: "Nó vừa mới bị bắt sống
tối hôm qua đó, nó thuộc Sư Đoàn Thép, bộ chỉ huy cho chở về đây lấy
tin tức. Tụi nó hết người rồi phải lấy toàn con nít hỉ mủi chưa
sạch. Sư đoàn Thép bây giờ toàn thứ này nhiều lắm". Nh́n khuông mặt non choẹt
tái mét v́ đă chui rúc trong rừng sâu nước độc, mỏng manh trong bộ quân phục
xốc xếch, chân mang đôi dép quai râu, tôi thấy tội nghiệp cho những đứa
trẻ "sinh Bắc tử Nam". Anh lính Dù đứng một lát xong dục: " Đi mày". Gật
đầu chào rồi bước ra chổ băi đậu, tôi lửng thửng đi ngang qua
hai chiếc trực thăng chở tiếp tế, mấy phi hành đoàn đang tập tụ
trong khoang tàu binh xập xám chờ phi vụ.
"Ê..., bao lâu nữa th́ đi?" Tr/u Vân bay chiếc số một
đang ngồi trong khoang tàu hỏi vọng ra. " Sắp sửa rồi, chuẩn bị đi
". Tôi vừa bước gần Vân thấy có Th/u Long đứng kế bên, tôi hỏi một
câu nửa chơi nửa thiệt :" Sao Long, giải được bùa chưa?" Anh không trả
lời chỉ nhếch mép cười. Nghe mấy người bạn kể lại v́ tội
dụ dỗ một cô gái Thượng ở Ba Mê Thuột, anh đă bị thư một cái
dằm vào chân, mổi đêm đều bị nhức nhối. Tôi nghe anh em nói tưởng
họ đùa, nhưng khi gặp anh Long hỏi th́ anh xác nhận chuyện đó có thật.
Mổi lần trong phi đoàn có phi vụ nào đi Ba Mê Thuột anh đều xin theo để
gặp thầy pháp giải bùa chửa bệnh.
Từ ngày mặt trận bùng nổ, tôi bắt đầu
cảm nhận rằng trong không khí chiến tranh càng leo thang, tâm tư anh em phi hành đoàn bắt
đầu mang một nổi e dè, lo lắng. Tối hôm qua, ở tại biệt đội,
trong khi anh em tụ tập bàn tán xôn xao về tin của một chiếc tàu của phi đoàn
bạn bị bắn nổ trên không trung . Tr/u Vân vừa mới lên từ Nha Trang, ngồi trong
pḥng tại biệt đội, anh tâm sự với một người bạn thân rằng
vợ anh mới sanh, tiền bạc chẳng có nhiều, mặt trận càng ngày càng sôi động
làm anh rất quan tâm...Trước khi đi ngủ anh móc tất cả trong túi lấy ra được
mấy ngàn đồng, cùng với cái đồng hồ rồi bỏ tất cả trong hộc
tủ, nhờ người bạn nếu anh có mệnh hệ ǵ th́ giao lại cho vợ anh.
Nghe câu chuyện tôi linh cảm như là một điềm xấu có thể xảy ra cho Tr/u
Vân.
Từ căn lều bộ chỉ huy, Tr/T Lạc bận
bộ đồ bay màu xám, chiếc nón lưỡi trai đen trên đầu với hai nhành
dương liểu trắng trông rất phong độ đi song đôi với Th/T Phát, phía
sau Tr/T Nhảy Dù đầu đội nón sắt tay cầm bản đồ và mấy người
tùy tùng, tất cả đang tiến ra bải đậu. Âm thanh o..o...quay máy của Charlie
khởi đầu cho phi vụ tiếp tế. Hai chiếc trực thăng vừa quay máy,
vừa nhận hàng của một chiếc xe cam nhông đậu kế bên hông. Những thùng
bằng gổ thông chứa đạn dược, C-Ration ( khẩu phần ăn của nhà
binh) cùng với những ống sắt đựng đại bác dùng để chứa nước
được chất đầy trên bong tàu. Đợi tất că cất cánh trước
cho rộng chổ, tôi từ từ nương con tàu nặng nề súng đạn rời
khỏi bải, vượt qua hàng rào kẽm gai và những cây "ăn ten" cao nghệu. Nh́n xuống,
những căn lều lúp xúp của trung tâm hành quân Dù Vơ Định vây quanh bởi hàng chục
ṿng kẽm gai nhỏ dần dưới ánh nắng mai gay gắt...
Bay chừng năm bảy phút, tất cả hợp đoàn
đă đến vùng, rặng núi Rocket Ridge nằm im ĺm dưới bầu trời trong xanh.
Chiếc C@C bay ṿng trên cao độ nh́n xuống, căn cứ Charlie gồm ba cứ điểm
pḥng ngự từ Nam lên Bắc, điểm thấp nhất đồi 960 cũng là băi đậu
trực thăng làm nơi tiếp tế, rồi tới đồi 1020, cao nhất phía Bắc
là đỉnh Charlie, 1050. Tất cả tạo thành một địa thế từ xa nh́n giống
như h́nh yên ngựa. Tại cụm pḥng ngự này đă bị Cộng quân mở hàng loạt
trận địa pháo 130 ly, 122 ly và hỏa tiễn đủ loại, chúng cố dứt điểm
căn cứ này với mọi giá. Tại cao điểm này chúng có thể kiểm soát tất
cả những di chuyển cũng như hoạt động dưới thung lủng sông Pokor
cũng như QL 14 chạy dài tới thị xă Tân Cảnh, mục tiêu trọng yếu đầu
tiên trước khi tiến chiếm Komtum. Trước đó mấy ngày căn cứ hỏa
lực Yankee phía Bắc Charlie đă bị thất thủ.
Ṿng vây địch siết chặc, áp dụng chiến thuật
tiền pháo hậu xung, sau những trận mưa pháo dữ dội, địch quân xung phong
ào ạt vào căn cứ, sau bao lần đều bị đẩy lui bởi sức kháng
cự mănh liệt của những chiến sĩ Dù và sự yểm trợ của phi pháo.
Sự kiên nhẩn của địch quân có giới hạn, chúng trở thành như điên
cuồng lao đầu vào trước những mủi súng của quân ta, xác của những
tên Cộng quân nằm la liệt ngoài những hàng rào pḥng thủ, tan nát cháy đen v́ đạn
pháo binh cũng như bom napal của những chiếc máy bay khu trục. T́nh trạng đạn
dược lương thực nước uống cạn dần đến mức tối
thiểu, nếu không được tiếp tế trong ngày hôm nay, Tiểu Đoàn 11 của
Tr/T Nguyển Đ́nh Bảo sẽ không c̣n phương tiện để chống tră sức
tấn công liên tục của địch.
Từ ngày Cộng Sản khởi động cuộc chiến
tại miền Nam, chiến thuật trực thăng vận đă được đem ra
áp dụng lần đầu tiên trong lịch sữ chiến tranh thế giới. Trực thăng
vận đă hoạt động rất hửu hiệu trong chiến trường du kích chiến.
Nhưng chiến tranh càng ngày càng leo thang, địch quân được tăng cường
và trang bị thêm nhiều vũ khí tối tân hạng nặng, đặc biệt nhất là
vũ khí pḥng không. Trực thăng với tốc độ chậm dể bị phương
hại và đă trở thành những mục tiêu dễ dàng cho những loại súng cở lớn
từ 12 ly 7, 37 ly và đặt biệt là những hỏa tiển cầm tay như SA-7. Sự
tổn thất chiến trường của ngành trực thăng càng ngày càng lên cao. Mấy
ngày hôm nay những phi vụ tiếp tế đă gặp nhiều khó khăn trở ngại
v́ rừng pḥng không và những trái đạn pháo kích chính xác địch đă điều chỉnh
sẳn nhắm vào bải đáp trực thăng, tôi cảm thấy bất lực trước
hỏa lực cũng như khả năng của chiếc trực thăng vơ trang này để
bảo vệ hửu hiệu cho những người bạn đồng hành.
Chiếc tàu tiếp tế số một của Tr/u Vân bắt
đầu vào "final". Triền núi trơ trụi v́ đạn pháo bao ngày qua từ màu xanh cỏ
ủa đă trở thành màu đất đỏ lồi lỏm những hố đạn
pháo. Ba điểm pḥng thủ đồi Charlie đă xơ xác hoang tàn gần như thành b́nh
địa. Trong cái im lặng của sự chờ đợi nghe ngóng của địch,
tôi cảm tưởng như tất cả những trái đại pháo đang chờ con tàu
mong manh nay đi vào ổ phục kích. Tôi cho chiếc guns Hổ một bọc sau đuôi cánh
trái, chiếc Hổ hai bên cánh phải. Từ sau lưng trên cao nh́n xuống tôi theo dỏi chiếc
trực thăng của Tr/u Vân chậm chạp hạ cao độ rồi từ từ đáp
xuống trên ṿng tṛn nhỏ của bải trực thăng, bụi đỏ bốc lên dưới
sức gió của cánh quạt. Từ vị thế trên cao phía sau tôi nh́n xuyên qua cánh quạt
trực thăng những người lính trên tàu đạp vội vă những thùng đồ
xuống bải... Bổng trên bải đáp không xa hai ba trái pháo nổ bung khói đen cùng bụi
đỏ bốc lên đồng thời những tiếng súng nổ vang rền lên từ triền
núi kế cận. Con tàu chậm chạp từ từ quay đầu lại chuẩn bị
cất cánh, đồng thời trên tần số tôi nghe tiếng của Tr/u Vân đứt
đoạn: " Charlie..., Charl...lie, ground...fi..ire..., ground..fi..ire...tầu...trúng đạn...". Từ
những mỏm núi trọc mênh mông, những viên đạn pháo không biết nơi xuất
phát, những viên đạn pḥng không từ nhưng hang hóc của những ngọn đồi
kế cận bắn tới tấp hướng tàu của Tr/u Vân. Phản ứng tự nhiên,
tôi cắm đầu con tàu phóng những trái rockets rải rác trên triền núi. Những trái hỏa
tiễn nổ lốm đốm trên sườn núi, tung lên những đám bụi đỏ,
yếu ớt vô hiệu quả trước kẻ thù đang ẩn nấp sâu trong hang hố
đâu đó.
Sau khi tác xạ xong tôi quay ṿng lại nh́n tàu của Tr/u Vân
vừa lên cao. Trên tần số tiếng la hốt hoảng của Th/T Phát đang bay chiếc
C@C: " Lead, lead...tàu bạn đang bốc khói nghe không trả lời?". Tôi nh́n theo chiếc lead
đang lấy cao độ khỏi triền núi, làn khói đen bốc lên từ buồng máy.
Phi hành đoàn vẩn im lặng. Không khí căng thẳng đến tột độ. "Lead,
lead...tàu bạn bị cháy...đáp ngay...đáp ngay..dưới chân bạn có bải đáp trống
trên triền đồi dưới thấp." Giọng nói của Th/T Phát đồn dập.
Từ xa, cùng cao độ tôi thấy con tàu của Tr/u Vân lửa bắt đầu ngún lên
thành ngọn bao trùm buồng máy. Lửa lan dần đến giửa thân tàu, hai người
xạ thủ đang chồm về phía trước pḥng lái...Tôi phụ họa: " Đáp...đáp..tàu
cháy.., tàu cháy....đáp dưới chân đồi.., nghe không Vân". Cố đem chiếc gunship
đến gần cặp sát con tàu đang bốc lửa mổi lúc mổi cao, khoang tàu mịt
mù khói đen thấp thoáng hai anh mê vô xạ thủ chồm về phía cockpit để tránh sức
nóng.
-"Đáp...đáp ngay...đáp xuống triền núi có Hổ cover
đây....nghe rỏ trả lời". Nhưng con tàu không c̣n liên lạc được với
thế giới bên ngoài, nó đang trở thành một khối lửa cuồn cuộn rơi
nhưng ḥn đá cuội, chạm triền núi vỡ bùng lên....Tất cả chỉ c̣n là một
đống sắt cháy ngùn ngụt...Trong cơn hốt hoảng phi hành đoàn chỉ muốn
bay xa khỏi tầm sát hại của địch mà không ước lượng được
t́nh trạng thiệt hại của con tàu đến khi quá trể. Tôi cho con tàu lượn
thấp xuống nh́n trong tuyệt vọng. Hai chiếc guns bay ṿng tṛn trên chiếc tàu bị
nạn và sau đó được lệnh rời vùng, tôi ngoái đầu nh́n đám cháy vẩn
mịt mù một lần cuối rồi chuyển hướng bay, nước mắt lưng
tṛng.
- Mănh Hổ, đây Charlie...Bốn chiếc guns của hai
phi đoàn bạn đă đến vùng, bạn dẩn năm chiếc vào mục tiêu.
Tôi ngước đầu nh́n, từ xa bốn chấm đen
từng cặp một đang bay đến trên nền trời sẩm tối.
-Charlie, đây Hổ. Cho biết vị trí tác xạ chính xác.
Tôi hỏi.
-Hổ đây Charlie. Hiện tại địch đă tràn ngập
khắp mọi nơi, hai cao điểm thấp đă bị địch chiếm, chỉ
c̣n đỉnh đồi Charlie đang c̣n giao tranh cận chiến. Bạn tự do oanh khích
ngay trên căn cứ Charlie, nghe rỏ trả lời...
Tiếng Th/T Bính vừa dứt trên tần số, tôi bàng hoàng
không tin những ǵ ḿnh vừa nghe được:
-Charlie đây Hổ, Th/T muốn tôi đánh ngay vào đỉnh
đồi?...
-Đúng năm...
Tiếng nói rơ ràng và khẳng định của C@C không c̣n làm
tôi nghi ngờ ǵ nửa. Lần đầu tiên chứng kiến sự thất thủ của
quân bạn ngay trước mắt. Căn cứ được đóng và bảo vệ bởi
một lực lượng tinh hoa và kinh nghiệm nhất của QLVN/CH, đă từng chiến
thắng bao nhiêu mặt trận đă làm cho địch nhiều phen kinh hoàng khiếp đảm,
giờ đây đang bó tay trước những đợt tấn công thí mạng của đối
phương.
Với sự hiểu biết hạn chế của một
hoa tiêu trực thăng vơ trang, tôi thường tự hỏi về chiến thuật của
bộ chỉ huy khi để một đơn vị tác chiến như Nhảy Dù sở
trường trong việc tấn công và chủ động trong chiến trường phải
đóng trụ tại một cao điểm. Thụ động chờ đợi địch
là sở đoản của binh chủng Nhảy Dù, họ được huấn luyện
để tấn công, không phải để giủ đồn. Trong giờ phút này không thấy
bóng dáng của một chiếc khu trục trên bầu trời, chắc không cần thiết
nữa. Quân bạn có lẽ đă dùng hết tất cả mọi khả năng yểm trợ,
sáu chiếc trực thăng vơ trang bây giờ chỉ c̣n là những vớt vát cuối cùng cố
gây cho sự tổn thức tối đa cho địch trước khi chúng hoàn thành mục
đích của chúng.
Lấy tần số của Charlie, tôi liên lạc được
với bốn chiếc guns của phi đoàn bạn và tất cả sáu chiếc guns theo nhau
đi vào vùng. Bầu trời đă tối lắm rồi, triền núi của ngọn Rocket
Ridge mờ ẩn hiện sau nền trời đen xám. Từ trên cao độ tôi tiến gần
vào mục tiêu, chổ trủng thấp yên ngựa bải đáp trực thăng cao điểm
960 là một trong ba cao điểm quen thuộc của cụm đồi Charlie, nơi mà Tr/U
Vân và phi hành đoàn đă bị bắn, và lên theo triền dốc và phía Bắc và trăm bộ
là cao điểm thứ hai 1020 đă bị địch chiếm, chỉ c̣n lại cứ điểm
cao nhất 1050 Charlie do Tr/T Nguyễn Đ́nh Bảo chỉ huy là đang c̣n giao tranh. Bay đến
gần đỉnh núi cao vô tri giác đó tôi như đă cảm nhận được những
trái lựu đạn đang chuyền tay nhau nổ tung trên những giao thông hào bể nát,
những viên đạn súng trường bắn thật gần, những người lính Dù
đan vật lộn với kẻ thù đông đảo, cố chiến đấu đến
hơi thở cuối cùng...
Bây giờ sự chính xác của những trái rockets của
sáu chiếc gunships không c̣n cần thiết nửa, tại bải chiến trường này
mảnh đất nhỏ hẹp nào cũng là mục tiêu. Sau khi thông báo cho những chiếc
guns đang theo sau, tôi cho con tàu cở ngàn bộ trên đỉnh cao điểm cắm đầu
xuống mục tiêu, những trái hỏa tiễn cháy bùng nối đuôi lao xuống đỉnh
núi, theo sau những vệt lửa dài chạm đất nổ tung tóe lửa, khẩu minigun
quay vù tuông nhưng viên đạn lửa nối đuôi nhau tạo một đường
đỏ dài uốn éo trong ánh sáng mờ ảo. Theo sau những chiếc guns tuần tự
phóng những trái rockets xuống đỉnh núi, những đốm lửa tóe lên bởi những
trái rockets trong bóng đêm chập choạng như đánh thức rừng pḥng không của địch.
Chung quanh đỉnh đồi bổng lấp lánh chấp chóa ánh sáng rực rỡ như
cây Noel trong đêm Giáng Sinh, một rừng tên lửa đỏ lao về hướng những
chiếc trực thăng đang cắm đầu xạ kích. Tôi la lớn trong tần số:"
Pḥng không...pḥng không...Break..Break...Break...." Nói xong tôi kéo ngược con tàu lên cao, những viên
đạng lửa bay vút hướng lên bầu trời đen như những v́ sao xẹt.
Không cần thiết phải có sự chính xác nửa, tôi thông báo cho tất cả hợp đoàn
guns xử dụng tất những đạn dược, rockets c̣n lại một lần cuối
trước khi rời vùng. Từ khoảng cách khá an toàn xa tầm bắn của những khẩu
pḥng không, tôi kéo con tàu nhổng đầu lên phóng những trái rockets bắn ṿng cầu như
đạn pháo binh, những trái hỏa tiển biến mất vào khoảng không gian mù mịt
rồi rơi rớt rải rác trên đỉnh đồi tóe lửa. Những mủi súng cao
xạ của địch tức th́ phản ứng, từ triền núi lấp lánh ánh lửa
pḥng không , những viên đạn đỏ như mưa rào bay ngược về hướng
những con tàu ẩn hiện trong bóng tối.
Tất cả đều vô nghĩa. Trận đánh đă
ngă ngũ. Những con chim sắt đang cố gắng thi hành phi vụ cuối cùng trong vô
vọng. Ngọn đồi mang tên Charlie không c̣n nửa, chỉ c̣n lại là dư âm của
những trận đánh kinh hoàng trong ngày tháng qua. Những người lính Dù đă anh dũng
chiến đấu tới giây phút cuối cùng với vị chỉ huy anh hùng của họ,
Tr/ T Nguyễn đ́nh Bảo.
- Hổ đây Charlie, các bạn có thể trở về căn
cứ. Thông báo cho tất cả biết trong ṿng mười lăm phút nửa sẽ có phi vụ
B-52 đến trải thảm bom. Các bạn hảy mau rời vùng.
Tiếng nói của Th/T Bính lạnh lùng trên tần số.
Tôi quay đầu con tàu rời vùng giao tranh, những đốm
lửa lập ḷe trên ngọn đồi Charlie đang ch́m dần vào bóng tối. Tr/u Nguyễn
Tường Vân, Th/u Trần Văn Long và phi hành đoàn cùng tất cả những chiến
sĩ Dù đă ở lại Charlie, mải mải... Xa xa, thành phố Pleiku đă lên đèn, một
vùng ánh sáng lấp lánh, nhạt nḥa ẩn hiện, không biết v́ đêm đen hay v́ ḍng lệ
đă trào dâng lên khóe mắt ?
Anh nằm xuống sau một lần đă đến
đây Đă vui chơi trong cuộc đời nầy Đă bay cao trong ṿm trời đầy Rồi
nằm xuống, không bạn bè, không có ai Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời Ru
anh ngủ vùi, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!
Văng vẳng đâu đây âm thanh ́ ầm rung chuyển
bầu khí quyển của từ thảm bom của những chiếc pháo đài bay B-52 vang
vọng... (c̣n tiếp: Mặt trận Komtum)
* *
*
Vĩnh Hiếu
Phi Đoàn 215 Thần Tượng
--- This article comes from Cánh Thép http://www.canhthep.com
| |
KHÔNG BỎ ANH EM KHÔNG BỎ BẠN BÈ
ĐÀO
VŨ ANH HÙNG
Câu nói “Không bỏ anh em, không bỏ bạn
bè” tuy đă được biết tới tự lâu,
và rất phổ biến trong các đêm Không Gian Hội Ngộ hay
trong các buổi sinh hoạt tương trợ hoặc họp mặt của các anh em thuộc
Quân chủng Không Quân chúng ta…
Một câu nói thấm da thấm thịt, đầy t́nh người
và làm vẻ vang Quân chủng, tồn tại từ năm 1968 đến nay, mỗi ngày một
thăng hoa, và chắc chắn sẽ vĩnh cửu…
Để mọi người chúng ta hiểu được xuất xứ về câu nói bất hủ này của KQ: ĐÀO VŨ ANH HÙNG, chúng tôi
đă liên lạc với tác giả, và được biết như sau:
Câu nói trên là tựa đề của một bài viết về tai
nạn rớt máy bay của KQ Trần duy Nguyện, PĐ 524/KĐ 62 Nha Trang năm 1968 tại
đèo M’Drak, Khánh Dương, bài viết được đăng trên báo Lư Tưởng
và đă gây một tiếng vang lớn trong Quân chủng, chính Tư Lệnh KQ lúc đó là Tướng
Trần Văn Minh đă cho người đem ra Nha Trang tặng tác giả một ngàn tiền
mặt và chiếc đồng hồ mạ vàng. Ông viết một bài khen ngợi , cũng
như đă tuyên bố dùng câu tựa đề này của tác giả làm châm ngôn cho Quân chủng.
Chúng tôi được sự đồng ư của tác giả, xin đăng
lại trọn vẹn bài viết này để mọi người chúng ta được am
tường.
NGUYỄN VIẾT TRƯỜNG
SVSQ Khóa 64C
“ Câu
chuyện bắt đầu vào một buổi sáng: Thứ tư ngày 27-03-1968 tại Không Đoàn
62 Nha Trang. Trung uư phi công Trần duy Nguyện, hoa tiêu PĐ524/KĐ62, ba mươi hai tuổi,
cao một mét sáu chín, nặng 72 kư. Chiếc L19 mang số AP112584 danh hiệu Liver 02 .Phi vụ
liên lạc hành quân Nha Trang- Pleiku. Trung úy Nguyện lái chiếc L19 đó. Anh cất cánh rời
phi đạo 30 hồi 07 giờ 50 phút. Khoảng nửa tiếng sau th́ chiếc Liver 02 ngộ
nạn.
Nguyện
bay tới giữa vùng Khánh Dương - Dục Mỹ th́ thấy trời xấu. Mây trắng
đặc đầy và sương mù kín phủ bốn phía núi non. Anh làm ṿng ngược quay
về, nhưng động cơ bung tiếng nổ khác thường rồi ngưng tắt.
Nguyện biết lâm nguy. Nhưng anh vẫn đủ b́nh tĩnh kiểm lại một lần
máy móc và làm các động tác khẩn cấp cho trường hợp hạ cánh bắt buộc.
Anh không liên lạc được với Phi Vân bằng vô tuyến. Lúc ấy chiếc Liver
02 đang ở trên ngàn rưỡi bộ và Nguyện nhận ra khúc đường đèo
M’Drak chênh vênh sườn núi mịt mù sương. Anh cho tầu lao xuống đèo. Rơi
như ḥn đá. Rơi như một khối vẩn thạch từ cơi thinh không giáng xuống.
Thật nhanh, thật kinh hồn và Nguyện chưa xong thảng thốt, anh nghe tiếng đâm
xầm dữ dội của khối sắt nặng ngàn cân cộng với trọng lượng
thân thể ḿnh khi đụng ngọn cây rừng. Toàn thân anh rung động như nhận
chịu một cơn trời xập. Rồi không biết không hay ǵ nữa trong cơi hôn mê mịt
mùng lăng đăng bắt đầu một cuộc phiêu lưu định mệnh…
Nguyện
c̣n sống nhưng bị găy cánh trên tay trái và thân thể anh bầm dập đau đớn
thảm thương. Những đêm, những ngày, gần một trăm tiếng đồng
hồ kiệt cùng sức lực, đói lạnh gian nan ḅ lết lần t́m về miền
đất sống trong khi tử thần cao ngạo bao lần vung lưỡi hái nhưng không
giết anh ngay. Mà thong thả vờn đùa cắt cứa thân anh từng mảnh thịt da
quư báu
Cuối cùng
với ḷng can đảm tuyệt vời, với sức chịu đựng siêu nhiên, với
ư chí quyết sống mănh liệt, Nguyện đă thoát ṿng hung hiểm, trở về. Hôm đó,
chủ nhật 31 tháng 03 , ngày ăn mừng đầy tháng con trai đầu ḷng của Nguyện….”
MỘT
-----------
ASOC gọi xuống
Phi Đoàn báo có một L19 mất tích trên đường đi Pleiku, yêu cầu cho các phi hành
đoàn túc trực chuẩn bị việc t́m cứu. Trung trả lời nhận rơ và tôi thấy
gương mặt bạn hốt hoảng:
- Tụi bây kêu mấy đứa trực Rescue và Ground-alert
sửa soạn lẹ lên. Tao
qua ASOC lấy
Frag và hỏi chi tiết xem đứa nào rớt.
Tôi nhảy hai bước níu lấy
vai Trung
- Không biết đứa nào mà sui quá vậy?...
Trung không nói ǵ và tôi hỏi xong mới
nghĩ Trung có biết ǵ hơn tôi đâu mà nói? Tôi thấy Nam từ pḥng Hành quân đi ra, tay
cầm tấm bản đồ:
-A hay
quá, các cậu vào đây. Peacock vừa báo về cho bên này biết ông Trung úy Nguyện đến
giờ này vẫn không thấy đáp Pleiku, chắc rớt dọc
đường…Các cậu vào lấy chi tiết rồi làm ơn nói Trung úy B́nh cho an hem
t́m ngay hộ. Phía Pleiku trời xấu nhưng ḿnh cũng rang t́m may ra hắn c̣n sống và
ḿnh đem về kịp.
- Tội nghiệp…! Tôi hỏi Nam, Nguyện nào?
- Nguyện 524 đấy. Hắn qua bay L19 mấy hôm nay…
Tôi xửng sốt. “Nguyện
524 hả?” và cũng buột miệng kêu lên. “Tội nghiệp”. Đồng thời
nghe dọc theo sống lưng ḿnh một ḍng cảm xúc tái người chạy ngược
lên tủy năo. Toàn thân bủn rủn. Tôi không nghe biết những điều Trung bàn bạc
với mọi người trong pḥng Hành quân Không đoàn những ǵ. Chỉ nghe, chỉ biết
một nỗi kinh hoàng rời ră tứ chi. Tấm bản đồ vùng Hai to lớn trên tường,
những chấm xanh chấm đỏ. Những đường bút ch́ mỡ khoanh tṛn vạch
thẳng. Rừng núi, sông ng̣i, đường xá và đồng ruộng…Tôi thấy màu biển
xanh nhoẹt nhoè trước mắt. Cái tai nạn của Lê chiêu Hiền tháng trước…
Chiếc U17 vùi sâu đáy biển
trên đường từ Quy Nhơn về Nha Trang. Lần đó chúng tôi bay ṿng ngược
ṿng xuôi đến mấy mươi lần dọc theo triền cát, trên vùng biển xanh, đỏ
mắt trông t́m mà chỉ thấy cát trên bờ và biển điềm nhiên đưa sóng ngu si
lầm lũi lao vào ghềnh đá…Những cái chết không t́m ra thân xác. Hoặc có t́m ra
cũng chỉ là những tử thi biến dạng, tan nát thịt xương, đen cháy cong
queo. Thật tội thương cho những người phi công dọc ngang trời rộng.
Biết có một ngày hung hiểm đến mà vẫn thản nhiên nhận chịu căn phần,
vẫn chứa chan tim óc trẻ trung nỗi nhiệt nồng yêu sống, mê luyến không gian.
Không ai muốn mà cũng chẳng ai trôngchờ bất hạnh đến cho ḿnh. Bất hạnh
thê thảm nhất là sự chết non đến rất t́nh cờ. Người sống và
kẻ chết đều không ngờ tới cuộc vĩnh biệt không lời từ giă.
Bất hạnh đă đến
với anh Nguyện rồi sao? Mong ǵ một sự trở về b́nh yên trong những phi vụ
phi cơ rớt nơi vùng núi cao biển sâu này? Tôi muốn kêu lên cho thoát nỗi nghẹn ngào
thương sót kết tinh thành khối chận ngang cổ họng…Xót thương lo lắng
cho anh Nguyện. Anh Nguyện dễ thương không phải với tôi ruột thịt mà tôi
đă thực t́nh lo lắng cho nỗi an nguy của anh như người ruột thịt.
Ai cũng có kẻ thù hay người khinh ghét. Nhưng tôi nghĩ, người như anh Nguyện
chắc không có ai khinh ghét thù hằn, mà đều quư thương kính nể anh như tôi vậy.
Bởi tính t́nh Nguyện đễ thương quá đi. Anh điềm đạm, ít nói, nhưng
khi nói chuyện th́ vui vẻ cởi mở, đối đăi thật tử tế đứng
đắn với tất cả mọi người. Ở đời có những hạng người
tuy chưa từng tṛ chuyện tiếp xúc nhưng chỉ thoạt nh́n thấy mặt là tôi
ghét và đôi khi coi khinh coi thường. Nhưng cũng có những người mới vừa
trông thấy là tôi đă có cảm t́nh , sinh ḷng quư mến và coi như thân thiết lắm. Anh
Nguyện là lớp người thứ hai và cái nhận xét chủ quan của tôi chưa bao
giờ lầm.
Tôi không ở cùng phi đoàn với
Nguyện nên không gặp anh thường và được biết nhiều về anh. Nhưng
thảng hoặc được ngồi cùng bàn trong các bữa cơm trên Câu lạc bộ hay
gặp nhau đâu đó, tôi chào anh, hỏi dăm ba câu chuyện, anh đều vui vẻ chào
hỏi lại và vui vẻ tiếp chuyện, dùng nhân xưng “tôi” cho anh, chỉ thị
đại danh “anh” với tôi, với mọi người. Nhưng hai tiếng “Anh,
Tôi” không có vẻ trịch thượng, không có vẻ nhạt
nhẽo hời hợt mà đầy ư niềm nở thân ái. Đôi khi lễ phép như anh dùng
tiếng “dạ” . Dạ phải. Dạ vâng. Dạ thưa anh nói đúng…Mà những
tiếng ấy nhiều khi làm tôi bối rối . Tôi thật t́nh chỉ đáng tuổi em thứ
hai, thứ ba của Nguyện. Sau này tôi dần trở nên quen với sự “lễ phép”
ấy và hết bối rối ngượng ngịu, nghĩ đó là lời xưng hô đứng
đắn lễ độ của một người có căn bản giáo huấn tốt
và tính hiền tự nhiên như khuôn mặt phúc hậu thật thà của anh. Người như
thế, không thể mang một tâm địa xấu được và tôi chỉ biết nói,
anh Nguyện là một người đàng hoàng. Tôi coi anh như một người anh gương
mẫu khả trọng và điều này tôi giữ trong ḷng, anh không biết được
lại có tôi quư mến anh nhường ấy.
Tin Nguyện mất tích truyền
đi thật nhanh , xôi nổi một luồng xúc động khắp Không đoàn. Người
không biết anh, tôi chẳng hiểu thế nào. Riêng ở tôi, ở những bạn bè thân quen
với Nguyện, tất cả đều thật t́nh xúc động lo lắng cho anh. Tôi nh́n
thấy điều đó ở tôi, ở trên khuôn mặt mọi người, ở cái không
khí nhộn nhịp hăng hái chí t́nh quên ăn quên nghỉ trong việc t́m kiếm tung tích chiếc
phi cơ xấu số. Suốt mấy ngày trời, dọc theo lộ tŕnh rộng lớn trùng
điệp núi rừng xuôi ngược Nha Trang – Pleiku. Bao nhiêu là máy bay đổ vào phi
vụ t́m cứu Nguyện. Trực thăng H34, khu trục, L19, Cessna, C47, của cả Không
đoàn 62 lẫn Không đoàn 33 từ Ság̣n ra và bên Trung tâm huấn luyện. Không biết bao
nhiêu lần, không biết bao nhiêu chiếc và không biết bao nhiêu người đă dồn vào
việc ấy…
Cái ǵ khiến nên tận t́nh như
vậy? Bổn phận dĩ nhiên phải làm sau mỗi tai nạn xảy ra hay là ǵ khác? “
Cái ǵ khác” đó, tôi biết, thúc đẩy tinh thần hăng say tận tuỵ kiếm
t́m anh Nguyện vượt khỏi một cuộc t́m kiếm thông thường chính là những
t́nh cảm đẹp đẽ và sự quư mến mọi người dành cho anh. Thiếu
tá Tư lệnh phó cũng đích thân điều động và lái trực thăng ngày ngày
t́m dấu Liver 02. Ḷng thương yêu đằm thắm ấy, anh Nguyện, anh xứng đáng
được hưởng . Hơn cả t́nh nghĩa bạn bè. Trên cả cái mà người
ta gọi là “t́nh đồng đội, t́nh huynh đệ chi binh” . Đó là do ḷng
sót thương một người anh em như thể anh em ruột thịt.
Ngày đầu chúng tôi hy vọng.
ngày thứ hai hy vọng ṃn nhụt dần đi sau khi Lộc về cho biết có thấy
một nơi rừng phía Bắc Khánh Dương có hai người đốt khói đỏ,
dơ vải trắng vẫy gọi trực thăng nhưng Lộc nghi ngờ Việt Cộng
lừa bắn không dám đáp v́ Nguyện đi Pleiku chỉ có một ḿnh sao lại những
hai người vẫy gọi? Tuy nhiên Lộc vẫn về báo
cáo và trở lại chỗ cũ th́ không thấy chỉ ngoài rừng
sậy và loang lổ vết cỏ khô ngún cháy.
Ngày thứ ba th́ chúng tôi không c̣n
ai hy vọng t́m thấy Nguyện và xác chiếc L19 nơi đâu. Nhưng vẫn cố công
t́m kiếm đến ngày thứ tư , thứ năm… Mọi người không một
tin tưởng mong manh nào nữa. Ai cũng thương sót Nguyện ngùi ngùi. Riêng tôi nặng
thêm ḷng uẩn ức. Sao không chết những thằng bần tiện, những thằng không
đáng được gọi là người, những con bọ hung hôi thối trong đoàn
thể đang làm điều nhơ nhớp nhục nhă đến chúng tôi. Đang làm vấy
bẩn, uế tạp bộ áo Không Quân danh diện của chúng tôi, mà chết những người
như Nguyện?... Ôi anh Nguyện dễ thương, anh Nguyện hiền lành. Không biết
anh c̣n sống hay đă thịt xương rữa nát? Tôi cầu mong có một “phép màu”
nào đó cứu mạng sống anh, và đưa anh Nguyện của chúng tôi trở về.
Đem lại ấm cúng cho gia đ́nh anh, để anh chung chia thống khổ với đồng
bào, tham dự với chúng tôi cuộc chiến đấu đắng cay nhọc nhằn hiện
tại.
Sơn bảo với tôi rằng anh vừa có con trai đầu ḷng chưa tṛn
tuổi thôi nôi. Tôi nghe quặn thắt trong ḷng. Mối thương tâm buốt nhức làm hoe nước
mắt. Tôi tưởng tượng ra khi người vợ trẻ của anh nhận được
hung tin. Tôi nghĩ đến Quang chết cháy trong chiếc khu trục trúng đạn và rơi
khi nó giáng từng loạt bom sấm sét xuống ngay đầu
kẻ thù man mọi. Quang chết đúng một tuần sau đám cưới. Ngân đă ngất
lịm sau tiếng kêu thảng thốt xé trời. Những cơn khóc than kể lể bi thương
làm tôi mủi ḷng. Chị Nguyện rồi sẽ ra sao? Cả đứa con trai đầu
ḷng của anh Nguyện nữa? Tôi đâu có biết mặt vợ
con anh . Tôi băn khoăn chẳng hiểu mai này lớn lên trong trí óc sơ sinh của con trai
Nguyện có mờ phai chút nào h́nh ảnh gương mặt người cha rạng rỡ hoan
lạc phút giây nh́n nó mở mắt chào đời? Đứa con sinh ra thời chiến và tự
sơ sinh đă mất ṿng tay chắt chiu nựng nịu của người cha. Thật là
tội thương cho nó.
HAI
_______
Ba giờ trưa ngày chủ nhật
31-03. Tôi đang nằm đọc quyển Văn, th́ Cầu mở toang cửa nhảy vào
pḥng la chói lói:
- Anh Nguyện về rồi mày ơi! Trực thăng bên phi đoàn mày vừa
đem về
đây xong
tức th́.
Nỗi mừng rỡ bật tung
tôi dậy. Sự mừng rỡ lớn lao đột ngột quá làm tôi đứng sững.
Cầu nói:
- Bác sĩ Trụ đem “thằng chả” qua Nguyễn Huệ
rồi. Đụ họ…thiệt hên
hết sức!
Tôi hỏi:
- Mày thấy hắn sao không?
- Mẹ, thiệt dễ sợ, trông “đíu” giống ai hết.
Quần áo rách mướp đầy bùn
x́nh.
Găy tay, lọi gị, bầm tím cùng người nhưng coi bộ “thằng chả” vẫn
khỏe và nói chuyện tỉnh khô à.
Tôi cười, đưa tay nắn
bả vai, nói:
- Thiệt mừng kể ǵ hả? Để hắn tĩnh dưỡng
yên yên, hôm nào tao đi
thăm…
Anh Nguyện được đưa
vào Quân y viện Nguyễn Huệ đến đúng chủ nhật sau tôi mới có th́ giờ
vào thăm anh gần trọn buổi sáng. Anh Nguyện nằm trong pḥng nh́n thấy tôi và gọi.
Tôi đi thoáng qua, nh́n vào, anh nằm đấy mà đâu nhận ra, ngờ ngợ ngó thân thể
nào bó bột trắng hếu cả ḿnh, cả cánh tay nằm trên giường bệnh viện
cho đến khi anh lên tiếng gọi và tôi mừng rỡ. Anh mời Hảo, mời tôi ngồi
trên hai chiếc ghế cạnh giường, nhờ Hảo lấy dùm gói Pall mall, vồn vă
mời chúng tôi hút thuốc. Anh cũng hút một điếu và tự bật lửa bằng
cánh tay c̣n lành lặn. Đó là cánh tay phải,không bó bột. Tôi nh́n anh, quan sát từ đầu
đến chân, vừa trả lời anh những câu hỏi, vừa hỏi anh về t́nh trạng
sức khỏe . Anh mặc có chiếc quần đùi, đôi chân rắn chắc đầy
những vết tray xướt quẹt thuốc đỏ và những vết bầm tím chưa
tan. Nguyện nói anh bị găy cánh trên tay trái, dập một hai đốt xương sống
và cùng khắp thân thể bầm tím như nhuộm chàm, nhất là khoảng từ lưng trở
xuống mông mà tôi không thấy v́ anh được bó bột. Bác sĩ khoét một mảng
trước bụng cho khỏi hấp hơi.
- Bây giờ tôi đỡ nhiều lắm rồi đó anh. Hôm mới về
tôi nói ai thấy cũng
hết
hồn không dám ngó.
Tôi cũng nghĩ là bây giờ anh
đă đỡ nhiều lắm và thấy anh như không xụt
cân, vẫn rắn chắc đẫy đà nhưng da mặt th́ xanh mướt. Nguyện
nói chuyện nhiều, cười nhiều. Giọng nói và nụ cười của anh vẫn
ṛn ră cởi mở nhưng dường như chứa đựng nhiều hân hoan vui sướng
v́ nỗi ḿnh thoát nạn, nỗi bạn bè thương quư nườm nượp đến
thăm mỗi ngày với quà bánh và những lời an ủi. Anh kể suốt hơn một
tiếng đồng hồ cho chúng tôi nghe về cuộc phiêu lưu định mệnh vừa mới trải qua, hăi hùng tưởng như mơ mà có thật.
Anh kể cho chúng tôi nghe rơ ràng mạch lạc cả từng điều nhỏ mọn trong
cuộc vật nhau với tử thần dài chín mươi chín tiếng và cuối cùng anh thắng
vinh quang đem sinh mạng trở về vùng đất sống.
BA
--------
Nguyện tỉnh dậy sau cơn
hôn mê dài lăng đăng phiêu diêu hồn phách. Tỉnh dậy bàng hoàng như vừa qua một giấc
mơ êm đềm mê mẩn chẳng hề tri giác một phân
đau trên cơ thể. Tỉnh dậy và nghe đầu tiên là tiếng chim kêu và thấy đầu
tiên là vùng sáng tối ảo mờ chốn rừng hoang tịch mịch. Một giây bỡ ngỡ
rồi anh hồi tưởng được ngay…. Bắt đầu từ lúc chiếc
Liver 02 lúng túng trở xoay trong biển mây mù rồi đột nhiên ngưng tắt. Rồi mang
cả phi công vùn vụt lao xuống rừng cây bên phải con đường đèo M’Drak.
Màu xanh, tiếng kinh hồn trời xập. Màu đỏ, hào quang chói lói….Bàn tay nào phũ
phàng d́m tôi xuống, nâng tôi lên, nhẹ hẫng, bềnh bồng và tôi không biết không hay ǵ
nữa…
Bây giờ th́ Nguyện biết
ḿnh vừa hồi tỉnh sau cơn lịm ngất dài. Chiếc đồng hồ tay c̣n chạy
11giờ 30. Lúc máy bay rơi tám rưỡi. Nguyện nghe ê ẩm váng vất. Anh cựa ḿnh,.
Cổ anh như găy, sống lưng anh như găy. Cánh tay trái đau dội lên làm Nguyện cứng
người cắn răng mà chịu. Đầu anh cũng nghe ê ẩm và như có tảng
máu khô bết nặng. Anh nhắm mắt thở, trán vă mồ hôi. Nguyện thử nhấc
cánh tay và anh phát giác nó đă lọi, găy ĺa ống xương cánh trên. Không có máu thấm ra vải
áo phi hành nhưng Nguyện nghe rơ các mảnh xương găy bên trong như dằm củi nhọn,
như vụn thủy tinh đâm xối vào thớ thịt khiến Nguyện đau buốt
choáng người muốn trào nước mắt.
Nguyện thấy ḿnh không hẳn
ở trong mà cũng không hẳn ở ngoài pḥng lái. Sợi dây an
toàn vẫn giữ anh liền ghế phi cơ nhưng nửa thân trên nghiêng lọt ra ngoài. Cánh
cửa bật tung đâu mất, kính tàu vỡ vụn. Chiếc máy bay của anh. Nó không c̣n
h́nh thù của chiếc phi cơ nữa. Cánh quạt, đầu máy và khung pḥng lái cong queo biến
dạng như có bàn tay mạnh mẽ vô cùng nào xoắn vặn. Nguyện rùng ḿnh khi nh́n xuống
nền đất dốc nghiêng. Mảnh helmet tan tành vung văi cùng những mảnh kim khí vụn
nát của thân tàu. Ôi nếu đầu anh không có chiếc nón bay che chở?...Xác thân anh là thịt
xương trăm ngàn lần mềm hơn sắt thép. Anh sống sót thật kỳ diệu.
Nguyện nhớ nơi ḿnh rơi
xuống bên phải con đường đèo M’Drak. Con đường rắn lượn
h́nh cung và anh có thể theo hướng 180, 200, 250, 279, …mà đi là ra mặt lộ. Yên vắng
trong khu rừng u tịch vây bủa tứ bề. Nguyện nh́n những chiếc kim, những
con số , những vạch đỏ xanh vàng trên các mặt đồng hồ phi cụ. Tất
cả đều im ĺm bất động khiến Nguyện mung lung bối rối. Phải
chui ra khỏi chiếc L19 xấu số và t́m kiếm đường về. Qua giây lát suy nghĩ.
Nguyện nghiến nát cơn đau đớn giữa hai hàm răng, dùng bàn tay phải h́ hục
toát đẫm mồ hôi gắng sức bẻ cho bằng được chiếc la bàn cầu
du chuyển đă găy rời ba con ốc vặn. Có đến gần nửa tiếng sau Nguyện
mới xong công việc gỡ lấy chiếc la bàn. Mệt muốn đứt hơi, anh ngồi
rũ người thở dốc…
Nguyện ra khỏi pḥng lái bằng
cách trườn ḿnh cho người rơi xuống đất. Cánh tay phải với bàn tay
nắm giữ chiếc la bàn không đủ sức chống đỡ và Nguyện phũ phàng
rơi xuống như tấm rẻ rách. Anh bật lên tiếng thét đau đớn xé trời,
nghiến răng ràn rụa nước mắt nằm phủ phục mà chịu nỗi đau
đớn tái tê đến tận nguồn thần kinh cảm giác. Nguyện mệt lả,
đau nhức khốn cùng và anh không dám chống tay ngồi dậy bởi anh biết ḿnh không
đủ sức ngồi dậy. Không dám cử động mạnh nữa. Đau đớn
nhức buốt ở từng khớp xương, ở từng thớ thịt. Nguyện
xoay người nằm ngửa trên triền dốc, anh thử co duỗi đôi chân. Chân anh
không găy nhưng cả hai đều bị trật khớp ở cổ chân. Anh thử cựa
ḿnh, thứ đau đớn nào nhọn hoắt nhói lên nơi xương sống ngang thắt
lưng. Nguyện lại nằm yên đưa đôi mắt nh́n cảnh vật.
Cây rừng bay cao ngó xuống th́
tủn mủn rong rêu, nhưng ở dưới lại là đại thụ cao to lá tàn rậm
rạp. Lá như khối đặc âm u che khuất nắng trời. Nguyện đếm được
tất cả ba ngọn cây cao bị phi cơ anh chém. gục. Chiếc phi cơ th́ đuôi cánh
găy gập, dúm dó chúi đầu nằm thê thảm giữa các mảnh kim khí vỡ văng văi
tùm lum. Bốn trái Rocket chưa nổ nằm ù ĺ lăn lóc dưới cánh tàu găy cụp. Một
giọt nắng xuyên qua kẽ lá xoi thẳng vào mắt Nguyện, anh thiêm thiếp muốn ngủ…
Nhưng vừa chợp mắt
th́ Nguyện nghe văng vẳng tiếng máy bay ầm ĩ. Anh choàng tỉnh, lắng tai và tim
đập mạnh. Tiếng động cơ ṛn ră quen thuộc đến gần. Tiếng
trực thăng! Không phải một mà những hai chiếc H34 song song ồ ạt bay ngang,
thật thấp và ngay trên đầu Nguyện. Bóng hai chiếc phi cơ loáng thoáng trên vùng lá
biếc và Nguyện rộn ră cơn xúc động bồi hồi…Anh biết họ đi
t́m ḿnh và nôn nao mừng rỡ. Nguyện muốn bật tung người dậy ḥ hét văy gọi
bạn bè anh trên đó biết anh ngộ nạn chỗ này xuống cứu. Nhưng anh không vùng dậy được , không làm ǵ được mà chỉ nằm
yên nghẹn ngào trông lên bóng hai chiếc trực thăng bay thật gần, thật thấp
trên vùng cây lá um tùm…
Anh nghe rơ tiếng cánh quạt chém
gió phành phạch, tiếng máy nổ ầm ĩ vụt qua…cho đến khi trở lại
ầm ́ rồi tắt, vậy mà Nguyện vẫn ngẩn ngơ văng vẳng bên tai những
lời mời gọi, hối thúc anh trỗi dậy. Bạn bè đang đi t́m kiếm anh,
họ sẽ trở lại nhiều lần nhưng chắc chắn không ai thấy bởi
cây cao lá rậm và Nguyện không có cách nào báo hiệu. Anh chẳng mang theo một dụng cụ
trang bị cấp cứu cá nhân nào kể cả con dao, khẩu súng. Giá bây giờ có một
viên đạn hỏa châu nhỏ bé hay một trái khói màu?...Tại tôi coi thường không đem
theo những thứ người ta cấp phát. Tôi đă c̣n sống sau tai nạn, rồi nếu
có chết thê thảm, chốn rừng hoang này chính là tự tay tôi hủy diệt mạng sống
ḿnh.
Nguyện nằm ôm mối uẩn
ức giận trách ḿnh. Anh bỏ chiếc la bàn xuống đất, đưa tay nắn túi
áo bay và móc ra được chiếc bật lửa. Anh loay hoay gắng gượng chịu
đựng đau đớn bám lấy thành tàu đu người dựa vào mặt chiếc
phi cơ, với tay mở nắp b́nh xăng. Mùi nhiên liệu thân quen nực nồng khứu
giác. Nguyện tính đốt tàu gây đám cháy làm hiệu cho phi cơ bạn trông thấy nhưng
anh thất vọng.
Bật bốn năm lần không
nhen chút lửa th́ chiếc hộp quẹt hết đá. Nguyện nhét bật lửa vào túi
áo. Lúc đó anh mới giật ḿnh hoảng sợ nghĩ đến điều nếu đốt
tàu , b́nh xăng nổ, cháy tràn lan, anh không thể nào chạy thoát và sẽ bị thiêu sống.
Nguyện thở phào, đưa mắt t́m kiếm trong tàu…Anh thấy dưới gầm
ghế hoa tiêu có một gói dù và một trái khói màu c̣n nguyên vẹn. Anh xúc động, lẩy
bẩy rướn người nhoài tới. Cánh tay trái anh găy lặc ĺa như cành cây chỉ
c̣n dính với thân bằng lượt vỏ, đong đưa trước gió. Nguyện chỉ
c̣n cánh tay phải để xử dụng cho việc nặng nhọc lung túng xoay vần, kéo
đẩy chiếc dù và trái khói màu rơi xuống đất. Đau đớn dội lên
nhưng Nguyện mím môi cưỡng chống, nằm ôm lấy gói dù mà thở. Lúc này ruột
gan anh mới cồn cào v́ đói…Buổi sáng Nguyện vào phi đoàn sớm. Trước
khi đi bay anh ghé vào câu lạc bộ Phi Hổ mua khúc bánh ḿ jambon 25 đồng bạc, để
trên giá đựng bản đồ tính nhẩn nha vừa bay vừa ăn sáng nhưng chưa
kịp cắn miếng nào th́ tai nạn xảy ra, khúc bánh ḿ đă bay đâu mất.
Cơn đói làm Nguyện cồn
cào gan ruột , bải hoải toàn thân. Anh nghe đầu nặng, mắt hoa, bắp thịt
rung chuyển, người nóng bừng bừng như lên cơn sốt, đầu óc váng vất
khó chịu. Chất chua từ dạ dày đưa lên miệng khiến Nguyện buồn nôn.
Đói và khát nữa. Lưỡi anh tê đắng và cổ họng, môi khô. Nguyện nằm
áp má thiêm thiếp trên gói dù đưa mắt lờ đờ nh́n xuống triền dốc…Đói
khát, mệt mỏi, đau đớn khiến Nguyện tưởng chừng kiệt cùng hơi
sức không sao gượng nhích được. Nhưng Nguyện đă nhích gượng. Hơn
thế nữa, anh nhổm dậy, nghiêng người chống khuỷu tay ḅ như con thằn
lằn bị dập nát hai chân sau. Bằng cách dùng cánh tay phải làm điểm tựa, nhón
đội mũi giày đẩy cả thân h́nh đồ sộ kéo cánh tay găy, lết từng
phân một xuống con dốc ngắn. Bởi ở dưới đó có một khe nhỏ
mà Nguyện th́ khát khô môi họng. Đá dăm đâm qua làn vải áo nát cánh tay anh. Khoảng
cách đến khe nước bùn không hơn bốn mét, vậy mà có đến nửa giờ
mới lết tới được. Anh hảo hển gối má nằm nghiêng trên những
ḥn đá nhọn của bờ vũng, ghé miệng tham lam cuồng dại mà uống, mà thở.
Nước bùn ngầu đục tanh tưởi rong rêu mùn lá nhưng anh bất kể. Nguyện
mê mẩn uống, say sưa uống từng ḍng mát lạnh vỗ về cổ họng khô
khan, tưới mát ruột gan bỏng cháy, nghe sảng khoái lâng
lâng. Anh lăn người vào trong vũng nước tận hưởng cơn mát mẻ dễ
chịu thấm qua làn vải áo phi hành. Rồi như trẻ con no sữa. Nguyện nhắm
mắt lại, anh thiếp đi hay ngủ cũng không biết nữa.
Nguyện tỉnh dậy lúc xế
trưa. Anh vẫn sũng người trong bùn ngầu đục. Đồng hồ tay anh
chỉ 3 giờ 10 phút. Lại có tiếng máy bay ầm ĩ trên vùng cây cao vợi. Nằm chỗ
này. Nguyện thấy được một mảng trời xanh dị dạng giữa khoảng
lá thưa gió thổi chập chờn. Có một giải mây trắng nơn lững thững bay…Ôi
cánh mây giang hồ mỏng manh kia sáng nay có góp phần trong khối mây mù mịt bưng bít mắt
anh, cản lối phi tŕnh và làm anh ra nỗi hoạn nạn thế này không? Tiếng máy bay ù
ù một điệu từ trên không đồng vọng. Nguyện thấy một chiếc
L19 buồn hiu lủi thủi bay ngang mảnh trời xanh có giải mây trắng nơn ấy. Một
lát sau lại thêm hai chiếc trực thăng song hàng rầm rộ lướt qua. Anh thấy
rơ những cái bụng thon dài đậm nét trên nền trời xanh lơ, những con số
màu vàng và lồng kính phi cơ chói loé ánh mặt trời phản chiếu. Nguyện cảm động
nghĩ đến bạn bè đang nôn nả kiếm t́m ḿnh. Nhớ tới trái khói màu. Nguyện
lẩy bẩy chống tay rời khe nước ḅ lên. Không mang thương tích chỉ cần
vài bước nhảy là tới, nhưng lúc này Nguyện chỉ nhích người ḅ lết
được vài phân mét lại nằm nhăn nhó v́ đau đớn, hồi lâu mới ngóc
đầu tiếp tục ḅ thêm vài phân mét nữa. Khoảng cách thật gần nhưng thời
gian ḅ lết dài quá đỗi. Trong khi đó thỉnh thoảng anh lại nghe, lại thấy
những chiếc phi cơ t́m cứu bay ngược suôi trên đầu. Chúng làm anh nôn nao cuống
quíu. Nguyện với được trái khói màu, anh chờ đợi tiếng máy bay, ghé răng
giựt chốt an toàn, quơ tay thảy xuống triền dốc….
Trái khói vừa lăn vừa cuồn
cuộn tuôn màu xanh đậm. Nguyện nằm chong mắt nh́n và ngửi mùi khét tràn không khí.
Gió từ trên lùa xuống, khiến khói không vươn lên được, mà rạp ḿnh ḅ sát
mặt đất. Gió làm nhiễu loạn dặt d́u đám khói, loăng nhạt dần màu xanh
đậm và cuối cùng chỉ c̣n những sợi mỏng tanh uốn éo tan biến trong không
khí. Hy vọng của Nguyện cũng lụn tàn, nghĩ nếu trời im gió khói xanh có bốc
lên cao, phi cơ cũng khó mà thấy được bởi màu xanh của khói tiệp với
màu xanh của rừng. Anh thở dài chua xót…Bạn bè tôi đôn đáo từ sáng đến
giờ t́m tôi nhiều quá. Mà tôi th́ mỗi lần tỉnh dậy nghe tiếng động cơ
rền rĩ kiếm gọi, muốn làm hiệu đáp lời, muốn hét to như sấm
sét bảo với họ rằng tôi đang bồn chồn cuống cuồng chờ đợi
ở đây, nhưng tôi không làm chi được. Tôi mang thương tích thảm thê, tôi đă
kiệt cùng sức lực…
Nguyện đâm sợ hăi những
tiếng ầm ĩ rền rĩ của máy bay, nghe như lời nghiêm khắc mỉa mai trách
mắng làm anh uất nghẹn. Nỗi ăn năn dằn vặt khi nghe tiếng động
cơ trên cao vọng xuống làm anh hoang mang bực tức. Nguyện muốn bưng tai nhắm
mắt ngủ vùi, thiếp đi hay chết để khỏi chịu đựng đau đớn
khổ sở trên thân và cả trong ḷng. Anh chỉ c̣n mong manh hy vọng ở đây bên xác chiếc
L19 may ra tới chiều bạn bè sẽ thấy và xuống cứu.
Cho tới bảy giờ chiều,
suốt ba bốn tiếng nằm chờ, Nguyện nghe tiếng và
trông thấy đủ loại máy bay qua lại nhiều lần. Trực thăng, L19,
U 17, C47, và cả HU1 của Mỹ nữa. Khi nắng chiều chỉ c̣n thoi thóp và tăm tối
dần nhuộm đen khu rừng. Nguyện không thấy bóng một chiếc phi cơ nào nữa.
Quanh anh chỉ có một bầu tịch mịch im vắng hăi hùng như cơi chết. Đêm
đă xuống hoàn toàn nhưng đêm có trăng và đêm có sao
cho Nguyện chút ánh sáng mờ đủ nhận ra cảnh vật, đủ cho anh nhận
ra một phiến đá rộng phẳng phiu nằm phơi lưng dưới ánh trăng
cách chỗ anh đang ngồi chừng 15, 20 thước, không có bóng cây che. Nguyện đă ngồi
dậy được nhưng di chuyển th́ phải ḅ bằng vai và dùng gót giày đẩy
thân ḿnh nhích tới. Suốt một đêm dài, anh h́ hục ḅ,
kéo theo bọc dù tới phiến đá. Chiếc dù trở nên nặng vô cùng. Khoảng cách không
đầy hai chục mét đối với Nguyện thật là dài. Suốt đêm mệt lả,
ngủ thiếp và ngất đi không biết bao nhiêu lần mà đếm. Khi giật ḿnh tỉnh
dậy anh lại tiếp tục ḅ trên đường gồ ghề sỏi đá, chằng
chịt giây leo, lồi lơm hiểm trở để vần bọc dù tới nơi phiến
đá lộ thiên.
Chiếc la bàn cầu du chuyển
Nguyện làm rơi xuống triền dốc, nằm trong đám cỏ dưới một hố
nông chỉ nửa sải tay là với tới nhưng anh loay hoay măi cũng không lấy được.
Nguyện đành bỏ và tiếp tục kéo chiếc dù tới sáng, Chung quanh phiến đá
là những cỏ tranh đă cháy tro tan dầy tung lên làm Nguyện ho sặc sụa. Đến
sáng th́ Nguyện đă ôm bọc dù nằm trên phiến đá, chân tay quần áo đen đúa
tro than bùn đất và bộ đồ bay màu cam trở thành màu ǵ bẩn thỉu, rách tả
tơi. Nguyện đă đem được gói dù tới phiến đá, đă mở được
bọc ngoài nhưng anh xoay trở măi vẫn không thể nào trải nổi. Cái dù quá rộng,
phiến đá th́ không bằng phẳng và cao…
Ngày thứ hai, b́nh minh trong khu rừng
c̣n đẫm sương đêm và có lời chim hót. Sáu giờ ba mươi. Nguyện bỏ
chiếc dù, bắt đầu khởi hành ra phía b́a rừng không có cây cao chỉ toàn cỏ tranh
vượt đầu người cùng những cây thấp. Bữa điểm tâm của anh
là những ngụm nước đầy rong rêu và những con sâu nhỏ mà anh bẻ nắp
bật lửa múc nước từ vũng đọng trên phiến đá.
Về trưa ánh nắng càng gay
gắt thiêu đốt Nguyện hừng hực. Chiếc áo bay bốc hơi hôi nồng, khô
cứng. Đói và khát vô cùng. Cổ họng, môi anh khô bỏng nhưng Nguyện vẫn nhủi
đầu dùng bàn tay khỏe mạnh gạt những bụi cây nhỏ đan chằng chịt
trườn ḅ từng tấc…Qua vùng lau bụi, qua chỗ bằng phẳng, qua triền
đất dốc đá núi gồ ghề sắc cạnh, tới
nơi có bóng cây râm mát trốn chạy nắng như đổ lửa. Nguyện thấy một
vũng bùn mà anh tưởng như gặp ḍng suối mát, hổn hển ḅ tới vục mặt
tham lam mút từng chút nước đen tanh tưởi xác côn trùng. Anh ḅ đi, đói khát, lại
ḅ trở lại vũng nước đó mà uống đến hàng chục lần. Có lúc Nguyện
thấy đủ loại cây ăn trái mọc hoang trong rừng như soài, ổi, mít, khế…nhưng
c̣i cọt không hoa quả. Mà giả có quả anh cũng bất lực ngẩng cổ nh́n thèm
chớ không sao với tới một cành thấp, nói ǵ đến việc trèo lên mà hái?
Một lần Nguyện đă
thử đứng hẳn dậy bằng hai chân để bức mấy chiếc lá khế
mà ăn, nhưng anh mới vừa thẳng người đă lao đao ngă vật,ngất
đi v́ đau đớn. Ba bốn phút sau đó Nguyện mới tỉnh, đầu bê bết
máu v́ khi ngă va đầu vào đá nhọn. Cánh tay găy ṭn ten bị động lại đau
nhức điếng người. Nguyện hoàn toàn cô đơn lạc lơng. Lúc này Nguyện
ước ao có được bất cứ một ai bên cạnh giúp ḿnh. Anh cùng quẫn muốn
điên loạn. Anh đă cùng đường bi thảm. Mấy lần Nguyện bật tiếng
la như người quẫn trí:
- Có ai nghe tôi không? Tiếp cứu! Tiếp cứu!...
Chỉ có tiếng vang của anh trả
lời, âm thanh lồng lộng trong miền hoang vu như chế nhạo ḿnh.
Mười giờ sáng Nguyện thấy
một trực thăng H 34 bay ngang sát đầu, ngay trên ngọn cây khế dại. Anh tràn
trề hy vọng rồi lại tuyệt vọng ngay, khi chiếc trực thăng vô t́nh bay
thẳng.
Suốt ngày 28-03 Nguyện ḅ được
không đầy hai trăm thước. Đêm anh nh́n sao nhắm hướng mà ḅ. Buổi chiều
khi hoàng hôn tắt. Nguyện gặp một hiện tượng huyền bí mà anh không hiểu
có thật hay chỉ là ảo giác? Lúc ấy Nguyện hoàn toàn tỉnh táo. Anh bỗng nghe có tiếng
đàn bà rất thanh thoát, rơ ràng ở ngay bên cạnh , vồn vă mời Nguyện:
- Lại đây, lại quán này có nhiều món ăn ngon lắm!
Nguyện cảm như có một
bàn tay mềm mại nắm bả vai anh đẩy tới và xô mạnh khiến Nguyện
ngă xấp xuống vũng nước bùn. Anh ngoan ngoăn uống, bên tai vẫn nghe tiếng nói
trong thanh đó mời mọc rồi lơ mơ thiếp đi một giấc dài. Khi tỉnh
dậy đă khoảng 8 giờ tối, lại nghe có tiếng
đàn ông kêu:
- Thôi đừng ăn ở quán này. Qua bên kia có đồ ăn ngon gấp
ngàn
lần…Anh cứ việc ăn
uống cho đă rồi tôi có đủ phương tiện đưa ra đường đón xe mà về, đừng lo…
Rồi Nguyện được
đưa vào một quán nhậu, được mời những món thơm ngon vô cùng nhưng
anh không thấy rơ mặt người đàn ông đàn bà mà chỉ nghe tiếng nói. Đến
đêm, ḅ một quăng lại thiếp ngủ. Trong giấc mơ màng, Nguyện nghe nhiều
tiếng người cười nói xôn xao, mơ thấy ḿnh nằm
bên cạnh những người bà con họ hàng đủ mặt.
Nhưng khi tỉnh dậy anh lại thèm khát lạ lùng những thứ thật b́nh thường
như một ly nước Sunroc, một ly nước mía hoặc một chút cặn càphê sữa…Ôi
khi đói khát người ta nảy sinh những cơn thèm muốn hèn mọn làm sao.
Hai ngày trôi qua. Sáng ngày thứ ba.
Nguyện thức giấc thật sớm. Đồng hồ của anh ngưng chạy từ
lúc 12 giờ 30 đêm trước. Ư niệm về thời gian
bây giờ là nh́n mặt trời. Lại qua một ngày, lại qua một đêm, gian nan đói
khát lần ḅ trên đất đá lởm chởm trong các bụi tre gai, những băi tro đầy
bẩn thỉu. Đói khát đau đớn hành hạ anh khổ sở. Đêm th́ lạnh,
ngày th́ nóng như thiêu. Suốt bốn ngày trời anh sống toàn bằng nước bùn, không
có một miếng ǵ vào miệng. Có những vũng bùn chỉ sâm sấp nước, không thể
vục mặt uống được. Nguyện dùng vỏ bút nguyên tử hút từng chút. Một
lần trông thấy một cây chuối non mới mọc bị cháy lá và không có củ. Nguyện
bật rễ, phủi qua lớp than tro bám bên ngoài rồi đưa lên miệng toan nhai nuốt
nhưng anh vội nhổ ra ngay. Chất nước chát xịt và đắng khiến Nguyện
không tài nào nuốt nổi.
Lần khác Nguyện bắt gặp
một con nhái nhỏ bằng ngón chân cái ngồi chễm chệ trên một ḥn đá cạnh
vũng bùn. Anh mừng quưnh, không chần chờ do dự chồm tới chụp con mồi.
Nhưng Nguyện vồ hụt! Anh nằm sấp trên vũng bùn tức tối thèm thuồng
nh́n theo chú nhái tí hon nhảy vào đám cỏ. Nỗi tuyệt vọng chán chường của
Nguyện đă đến cực cùng. Ngày nào cũng thấy phi cơ bay ngang nhưng anh không
ra hiệu được. Đôi bàn chân ướt sũng làm đôi giày cao cổ nặng chĩu.
Nguyện cởi giày vứt bỏ đôi bí tất hôi thối nồng nặc, phơi chân khô,
lại xỏ giày tiếp tục ḅ. Suốt ngày anh không vượt quá 200mét. Bao nhiêu nghị
lực gắng gượng đến chiều thứ tư là tàn lụn không c̣n chi nữa.
Nguyện tin tưởng trăm phần ḿnh gục chết ở nơi đây, anh đau đớn
trông chờ may rủi. Đêm đó Nguyện không ḅ nữa, anh nằn rũ liệt nhưng
trí óc sáng suốt tỉnh táo vô cùng. Kư ức nảy nở những h́nh ảnh, những gương
mặt thân quen, những kỷ niệm từ thủa xa xưa như cuốn phim dài hiện
lên rơ ràng đầy đủ hơn bao giờ hết. Có lúc anh mơ thấy được
ăn uống những món sơn hào hải vị chưa khi nào
được nếm trong đời. Có lúc Nguyện mơ thấy vợ con, chị em, cha
mẹ…nằm ngay bên cạnh. Anh thảng thốt choàng dậy gọi thành tiếng tên
người yêu dấu…
Đêm mông lung lạnh lẽo chỉ
có tiếng thầm th́ âm u của gió và tiếng côn trùng rỉ rả. Nguyện không sợ đêm
đen. Anh không sợ rắn rết thú dữ , không sợ gặp Việt Cộng. Anh không
nghĩ đến những điều đe dọa có thể đến với ḿnh mà chỉ
băn khoăn làm sao thoát nơi đất chết này trở về. Nguyện không muốn
chết. Anh h́nh dung ra nụ cười trẻ thơ của đứa con trai đầu
ḷng bụ bẫm ngày mai vừa tṛn thôi nôi…Vợ anh, con anh! Ôi mái gia đ́nh ấm êm hạnh
phúc cần có anh hiện diện. T́nh thương thiết tha dâng ngập khiến Nguyện
rưng rưng nước mắt. Anh phải trở về. Phải gượng gắng đến
cùng t́m ra đường về xum họp với vợ con, bè bạn…
Sáng chủ nhật 31 tháng 3, ngày thứ
năm của cuộc hành tŕnh bi thảm. Nguyện như được tưới thêm chất
sống nhờ h́nh ảnh đứa con trai bé bỏng. Anh dậy thật sớm với ḷng
hăm hở quyết định sống c̣n lần chót. Hoặc anh trở về, hoặc
anh găy gục cuộc đời trong ngày hôm nay. Bao nhiêu sức lực đă cùng kiệt, t́nh
thương thắm thiết cho đứa con trai đă tưới bùng ngọn lửa nhiệt
thành yêu sống trong anh lần cuối. Anh khởi hành từ mờ đất, ḅ lết đến
10 giờ sáng th́ Nguyện nghe có tiếng xe chạy!
Ôi thật mừng kể ǵ…Tiếng
xe hơi có vẻ gần lắm và Nguyện bồi hồi cảm động. Chừng tiếng
rưỡi sau. Nguyện mới thấy quốc lộ phơi ḿnh dưới nắng. Anh
đầm đ́a nước mắt tủi mừng. Suốt mấy ngày trời gian nan khổ
nhọc bây giờ Nguyện mới thật sự khóc dàn dụa. Anh lết được
tới bờ đường. với tay xoa vuốt mặt nhựa nóng hầm hập mà ḷng
chứa chan mừng tủi. Nhưng lúc đó không có một chiếc xe nào chạy ngang. Nguyện
thấy chiếc L19 mang dấu hiệu Không Quân Mỹ chao liệng trên khúc đường
đèo cách nơi anh nằm chừng 500 mét, rồi thêm hai chiếc Huey loại Gunship xuất
hiện. Những chiếc trực thăng hung hăn chúi đầu thay phiên nhau bắn từng
loạt đại liên, rocket xuống dọc hai bên khúc đường đèo M’Drak, tiếng
nổ ṛn ră vang lên. Nguyện thấy rơ những tia lửa xẹt, đất đá bụi
mù tung tóe cùng những cụm khói nhỏ rải rác bốc lên. Mới đầu Nguyện toan
trườn hẳn lên mặt đường cho phi cơ trông thấy nhưng sau khi nghe tiếng
nổ, anh hoảng sợ…Nguyện không dám nằm bên vệ đường v́ sợ phi
cơ bắn lầm, bèn ḅ ngược lại, lăn ḿnh nấp sau một g̣ đất có
cỏ cao che kín…
Có đến ngoài 30 phút thấp
thỏm hồi hộp lo sợ cứng người trước cái chết oan uổng kỳ
cục có thể đến với ḿnh, khi hai chiếc trực thăng bay đi. Nguyện
mới hoàn hồn ḅ ra ngoài đường cái. Anh nằm phơi nắng, nhuễ nhại
mồ hôi chờ một chiếc xe qua. Nhưng xuốt hơn một tiếng đồng
hồ, có tất cả mười bốn chiếc xe hàng suôi ngược đường
Khánh Dương - Dục Mỹ chạy qua. Nguyện dơ tay vẫy, không xe nào ngừng. Tài
xế chạy chậm lại. Thấy anh họ trợn mắt nh́n kinh hăi tưởng như
thấy con vật kinh khủng hay một con quỷ đội mồ hiện lên, nhổm người
ngó anh rồi hết hồn rú ga chạy thẳng.
Nguyện chua sót nh́n lại thân
thể ḿnh. Anh cũng không thể tưởng tượng ra anh nữa. Bộ áo bay màu cam
rách nát bết đen tro bùn, mặt mũi tóc tai chắc cũng kinh tởm lắm nên tài xế
và những hành khách trên 14 chiếc xe đ̣ mới nh́n anh sợ hăi và bỏ chạy như vậy.
Nguyện đành liều ḅ ra giữa đường, khi anh thấy chiếc xe hàng thứ
15 từ phía Dục Mỹ bon tới. Chiếc xe thắng gấp giữa đường,
những cái đầu nhô ra xôn xao bàn tán. Đó là chiếc xe du
lịch hiệu Renault chở hành khách mang chữ “ Hương B́nh”. Anh ngóc đầu
đưa tay ra dấu…
Nguyện được người
tài xế và một ông già hành khách vực lên, đặt ngồi trên băng trước. Anh
biết ḿnh từ phút này kể như thoát nạn. Anh tài xế có tên là Bảy. Những đàn
ông đàn bà ở các băng sau ồn lên lời hỏi han, xót xa tội nghiệp khi được
anh cho biết là Phi công rớt máy bay. Những người ở sau chuyền lên những khúc
bánh ḿ, những chai nước và cả những lọ dầu khuynh diệp…Nhưng Nguyện
mừng quá đỗi anh không thấy đói. Ông khách già ôm lấy anh dùng khăn ướt
lau sạch những vết máu khô trên mặt và đổ cho anh uống từng ngụm nước
cam. Nguyện như đứa trẻ yếu đuối ngoan ngoăn uống những ḍng nước
ngọt lịm như sữa mẹ trong bàn tay âu yếm sót thương của người
hành khách già nua. Những săn sóc nhiệt tâm ấy khiến anh bồi hồi cảm động.
T́nh quân dân, t́nh đồng bào ruột thịt đẹp đẽ làm anh mừng mừng tủi
tủi…
Chiếc xe hàng ngừng ngay trước
cửa văn pḥng Quận Khánh Dương. Ông Quận trưởng và nhân viên hành chánh Quận,
Cảnh sát, Y tá, ùa ra khiêng Nguyện vào trong pḥng bệnh xá Chi y tế. Tất cả mọi
người đều lăng xăng săn sóc Nguyện. Anh được tiêm thuốc khỏe,
được chích nước biển và tự tay ông Quận pha cho anh một ly sữa nóng.
Ly sữa của t́nh thương. Nguyện uống và cảm thấy ngon nhất đời. Dân chúng nghe tin cũng lại thăm anh. Họ
đem tới những quả cam, những miếng cam thảo…Nguyện chỉ c̣n biết
ứa nước mắt thu nhận h́nh ảnh tất cả những gương mặt
ấy để nhớ đời ân nghĩa. Anh nhờ ông Quận trưởng điện
thoại về Nha Trang. Hai giờ rưỡi trưa, trực thăng H34 lên đón Nguyện
về.
BỐN
---------
Nguyện say
sưa nói, chúng tôi say sưa nghe, hồi hộp, thương sót và cảm phục sức chịu
đựng, ư chí mănh liệt cùng ḷng can đảm tuyệt vời của Nguyện. Hải
th́ cứ như một bà già xưa đầy ḷng nhân ái, luôn miệng suưt xoa trầm trồ
chặc lưỡi lắc đầu những câu: “ …Tội nghiệp, ghê gớm
đến thế kia à, nghe anh Nguyện nói mà lạnh người dễ sợ…” Những
điều kinh khủng Hải nghĩ không ǵ quá đáng bởi chính từ anh Nguyện kể
và trăm phần trăm chúng tôi tin. Tin là sự thật nhưng vẫn tưởng chừng
như chỉ có trong tiểu thuyết phiêu lưu tưởng tượng mà riêng tôi chưa
từng trải qua hay nghĩ ḿnh nếu lâm vào cảnh huống gian nan cùng khổ ấy lại
có thể trở về như cuộc trở về của Nguyện.
Biến cố
ghê gớm nhất đời Nguyện và anh nói không thể nào quên. Anh cũng không thể nào
quên được cái t́nh nghĩa sâu xa cảm động của bè bạn đồng đội
dành cho anh. Cả những hành khách, anh Bảy tài xế chiếc xe hàng Hương B́nh, ông Quận
trưởng Khánh Dương cùng tất cả nhân viên trong quận đă tận t́nh săn
sóc an ủi anh. Nguyện nói hoài rằng anh cảm kích vô cùng và nhớ đời ơn nghĩa
đó.
Tôi muốn
kêu lên, anh Nguyện , anh xứng đáng với những điều đẹp đẽ mọi
người dành cho anh v́ anh thật hoàn toàn. Anh Nguyện, dầu sao anh cũng tai qua nạn
khỏi nhờ phúc đức và ḷng can đảm của anh hơn là nói đến điều
chúng tôi ơn nghĩa…
Anh đă Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè, là điều
chúng tôi mừng ghê gớm lắm.
ĐÀO VŨ ANH HÙNG |
|
|
Tự ái Dân-Tộc
Danh dự Quân-Chủng
(Việt Nam mùa băo lụt)
Cũng đâu vào khoảng thời gian tháng chín, tháng mười
năm 1970, miền Trung gặp thảm cảnh băo lụt, mưa triền miên bất tận.
Nước mênh mông khắp chốn, mực nước dâng lên ở mức độ kinh hoàng.
Nước lũ trên nguồn tuôn xuống đồng bằng, trong ṿng một tiếng đồng
hồ mực nước dâng lên cả thước. Mưa nặng hạt, trần mây 200 bộ,
tầm nh́n xa từ nửa dặm đến một dặm. Ngoài tám phi hành đoàn có tên trên
bảng Phi Vụ Lệnh, tất cả các nhân viên phi hành đều tự động tập
trung tại phi đoàn ngóng chờ tin tức và sẵn sàng .
V́ là ngày nghỉ tôi đến quán “Thượng Sĩ
Đúng” ăn sáng ghi sổ trước khi đến Phi Đoàn; ngày mưa trời xấu,
nhất là túi không tiền th́ không nơi nào vui bằng ở Phi Đoàn. Cũng như các anh
em khác, tôi đến phi đoàn vào khoảng tám giờ (08:00) sáng. Thật là ngạc nhiên khi
thấy mọi người tập trung gần như đầy đủ, mặc dù chẳng
có ai ra lệnh. Ngoài trời mưa vẫn rơi nặng hạt, trời âm u. Hoạt động
duy nhất của phi trường vẫn là những chuyến bay bên phía Tây của phi trường
thuộc các phi đoàn F-4 của Hải Quân cũng như của Thủy Quân Lục Chiến
Hoa Kỳ. Trong phi đoàn anh em chúng tôi chia nhau tụ tập đánh Bida, đánh Cờ Tướng,
đánh Domino, đánh Tứ Sắc, đánh Sập Sám hay sôi nổi kể cho nhau nghe những
trắc trở của các phi vụ đă trải qua. Không khí ồn ào, náo nhiệt thật
hỗn độn nhưng cũng thật vui nhộn. Trong giới phi hành tại vùng I, chúng
tôi đều truyền nhau câu nói "Mây phủ Sơn Trà, về nhà đánh bạc" (1),
với thời tiết này th́ bay bổng cái ǵ cơ chứ.
Khoảng đâu vào lúc mười giờ (10:00), tôi từ
pḥng nghỉ bước qua pḥng Hành Quân th́ anh Hạ Sĩ Quan trực trao cho tôi điện
thoại nói là của Đại Tá Nguyễn-Đức-Khánh, Tư Lệnh Không Đoàn 41-CT,
- Tôi đâu phải là Sĩ Quan Trực. - Đại Tá
muốn nói chuyện với Trung Úy. Chết mẹ! chuyện ǵ đây?
Tôi nghe điện thoại
- Trung úy Ngọc tôi nghe.
Và nhận được câu hỏi thật nhẹ nhàng
- Dân bị lụt khổ quá, bên Quân Đoàn họ
đă nhờ "First Marine", trang bị CH-53 Black Stalion, nhưng bị từ chối v́ thời
tiết quá xấu. Quân Đoàn cũng yêu cầu bên "Black Cat", xử dụng UH-1 cũng như
chúng tôi, cũng bị từ chối với cùng một lư do; thế liệu ḿnh có thể làm được ǵ không Ngọc?".
Đúng là cung cách của Trung Tướng Hoàng-Xuân-Lăm.
- "Đại Tá để tôi thông báo cho ông Phi Đoàn Trưởng".
-
"Ông Phi Đoàn Trưởng và Trưởng Pḥng Hành Quân đang họp ở đây với tôi".
A!
Có lẽ đây là trường hợp hoàn toàn nghịch lư với an phi mà nếu để
cho Ông Phi Đoàn Trưởng hay Trưởng Pḥng Hành Quân nói th́ thế nào cũng bị phản
đối thành ra để cho tên làng nhàng cóc cắn, vô quyền vô hạn lại to mồm
như tôi nói th́ lời nói có vẻ vô tội vạ hơn nên trực tiếp Ông Đại
Tá muốn tôi tự nguyện làm cái loa
- "Để tôi thông báo với anh
em".
Tôi ghi vào sổ trực trọn vẹn lời nói của
Đại-Tá Nguyễn-Đức-Khánh rồi sau đó thông báo cho các anh em. Thật là một
chuyện vô tiền khoáng hậu và hy hữu trong lịch sử của Không Quân chứ đừng
nói đến lịch sử của Phi Đoàn 213. Tất cả nhân viên phi hành đều túa
ra ngoài phi đạo. Chưa bao giờ có cảnh phi hành đoàn dành nhau bay, túc trực tại
phi cơ hối thúc và phụ với kỹ thuật sửa tàu trong mưa. Dù tàu bị rung
ngang (lateral vibration), tầu quá giờ
kiểm kỳ cũng lấy, miễn không nguy hiểm. Chỉ trong ṿng một tiếng
đồng hồ mười bốn phi cơ chuyên chở thường và hai trực thăng
vơ trang lần lượt cất cánh. B́nh thường trực thăng chuyên chở thực
sự khả dụng hàng ngày là từ tám đến mười chiếc, chưa bao giờ
đạt được trên con số này. Mưa vẫn nặng hạt, trần mây vẫn
khoảng 200 bộ và tầm nh́n xa vẫn không thay đổi, từ nửa dậm đến
một dậm. Chúng tôi chia vùng cho nhau để tránh tai nạn, phi cơ có thể đụng
nhau. Trời xấu như thế mà lại không bật đèn lên được v́ tầm
nh́n xa quá ngắn, khoảng cách giữa nước và mây quá gần, sự phản chiếu
của ánh đèn dễ làm cho phi công bị quáng (vertigo)
Người Không Quân không thù dai nhưng lại nhớ rất
dai. Tôi nhớ đến một cuộc phỏng vấn của tờ báo quân đội Hoa-Kỳ,
"Stars & Stripes", phỏng vấn Trung Tướng Hoàng-Xuân-Lăm, Tư Lệnh Quân Đoàn I; trong
cuộc phỏng vấn này khi được hỏi là "Không-Quân Việt-Nam đă có UH-IH rồi
th́ tại sao Trung Tướng vẫn xử dụng Phi Hành Đoàn và Phi Cơ của Quân-Đội
Hoa-Kỳ?". Trung Tướng Hoàng-Xuân-Lăm đă khẳng định chắc nịch với
phóng viên tờ "Stars & Stripes" là "Tôi
hoàn toàn không tin tưởng vào khả năng và sự hiểu biết của Phi-Công Việt-Nam
cũng như nghành Bảo-Tŕ của Không-Quân Việt-Nam". Sự kiện này đă gây nên một
làn sóng phẫn nộ trong Quân-Đội Việt-Nam cũng như trong quần chúng và báo giới
cũng lên tiếng ồn ào một thời gian dài.
Tôi và Thiếu úy Phúc, hoa tiêu phó, trách nhiệm vùng "Nông Sơn",
"Trà Kiệu". Với điều kiện thời tiết này tốc độ bị giới
hạn trong khoảng 60 đến 70 dậm một giờ. Mưa cũng đă ngớt và tầm nh́n xa đă khá hơn. Chúng
tôi đến từng nóc nhà một để đón dân. Chúng tôi đón tất cả mọi
người. Hoàn cảnh này c̣n ǵ nữa mà phân biệt địch với ta. Bất cứ
người nào lên nóc nhà là chúng tôi đón. Điều nguy hiểm duy nhất không phải là
sợ bị Việt Cộng bắn mà sợ những tấm tôn đă được băo tố
làm cho long đinh bốc lên theo gió lốc của cách quạt. Đợt đầu tiên chúng
tôi đón th́ dân c̣n ngồi trên nóc nhà, khi chúng tôi trở lại th́ mọi người đều
đă phải đứng v́ nước dâng lên quá nóc nhà. Có một ông nông dân được
anh cơ phi kéo lên trên tàu, tay c̣n khư khư ôm theo con heo nhỏ trong ḷng. Lên đến phi cơ,
ông nông dân tuột tay, con heo phóng xuống nước, ông nông dân liền phóng theo. Nước chảy siết, ông nông dân trôi đi khá xa; chúng tôi đă phải
đón đường nhúng cả phi cơ xuống nước để đón cả ông
nông dân lẫn con heo lên. Lần này th́
tên cơ phi vất vả thật, nhờ có gắn loại giây an
toàn dài mà Mỹ gọi là Monkey Harness, nên
hắn nhảy ùm xuống nước mới vớt được cả ông nông dân
lẫn con heo lên tàu đưa về sân bay Hội An. Đúng là khổ v́ con lợn ḷng.
Điều oái oăm nữa là khi chúng tôi bay ngang qua một cây mít th́ bị bắn......hụt. Dĩ nhiên là chúng tôi đă gọi trực thăng vơ trang
"Tiến Lùi", Trần Lê Tiến, đến
dùng đại liên sáu ṇng đưa
tiễn mấy tên này về bên kia. Hoàn cảnh này khi bắn xong th́ tụi hắn chạy đi
đâu? Thế mà cũng bắn!. Đúng là tối dạ.
Khoảng không gian sinh hoạt của chúng tôi đă bắt
đầu bị thu hẹp lại v́ sự góp mặt của "First Marine" và "Black Cat". Chúng tôi
vào tần số của nhau để pḥng tránh tai nạn . Sau đợt thứ hai th́ tôi phải
trở lại Đà Nẵng để thay cơ phi. Tên cơ phi đă quá mỏi mệt gần như muốn ngất xỉu v́ phải
kéo người lên phi cơ; nhưng hắn lại không muốn về. Mắt đỏ ngầu,
người ướt như chuột lột mà vẫn gân cổ lên nói cà lăm đứt
quăng là “Tôi không sao”. Ngày hôm đó phi hành đoàn nào cũng đă bay gần tám (8) tiếng không nghỉ. Phi cơ
nổ máy đổ xăng, ghé qua phi đoàn đổi cơ phi, hay xạ thủ bốn lần;
đồng thời nhận khẩu phần mỗi người một ổ bánh ḿ thịt
với lon nước, nước do cố vấn phi đoàn tặng, và tiếp tục phi
vụ. Đến khi trời xụp tối và không c̣n thấy rơ được nữa, chúng tôi mới rời vùng, chấm dứt phi vụ.
Trên đường về, khi gần đến Đại
Lộc tôi nh́n thấy một đám quân nhân TQLC Hoa Kỳ đứng ở trên mui xe vẫy
gọi, họ bị kẹt giữa đường v́ xe bị nước ngập hoàn toàn.
Chúng tôi đă bay ṿng trở lại ghé càng cho họ leo lên rồi đưa họ trả về
cho đơn vị trên đồi 52.
Về đến băi đậu chúng tôi đă nhận được
một phần thưởng thật to lớn, to hơn cả những lời ban khen của
Quân Đoàn I, lời khen tặng của "Black Cat" và lời mời thăm viếng của "First
Marine" đến với chúng tôi ngày hôm sau, đấy là nụ cười rạng rỡ của
các chuyên viên kỹ thuật kèm theo ngón tay cái dơ lên. Nước mưa của thiên tai băo lụt
đă rửa mặt cho chúng tôi thật sạch sẽ.
Tất cả phi cơ và phi hành đoàn đều trở
về an toàn; chỉ có mấy tên cơ phi và xạ thủ là vất vả chưa từng
có trong đời v́ phải kéo người lên phi cơ và đồng thời canh pḥng để
thông báo cho phi công khỏi chặt cây lúc đón dân.
Vào phi đoàn để ghi sổ bay; bỗng nhiên không hẹn mà gặp,
chúng tôi đều nói đến cuộc phỏng vấn Trung Tướng Hoàng-Xuân-Lăm trên tờ
"Stars & Stripes", rồi nh́n nhau cười ha hả.
Đột nhiên có giọng ca vịt đực không biết
của tên nào cất lên hát bài "Không Quân Hành Khúc" từ trong pḥng nghỉ vang ra; thế là cả
đám chúng tôi đều hát theo. Bài hát chẳng có mấy ai thuộc hết, nhưng câu "Không
Quân ra đi cánh bay rợp trời" là rơ ràng và to nhất. Kư sổ bay xong, chúng tôi rời phi
đoàn trả lại sự yên tĩnh cho mấy tên trực phi đoàn.
Ngoài trời trần mây vẫn thấp, mưa vẫn
to nhỏ hạt ngắn hạt dài đều đặn rơi trên đường. Tuy
nhiên, trong mây mưa vẫn c̣n lồng lộng giọng cười sảng khoái và ngạo nghễ
của KHÔNG QUÂN VIỆT NAM .
KQ Trần Văn Ngọc
PĐ-213 PĐ-241
(1)- Sơn Trà là ngọn núi trên có thiết lập đài Kiểm Báo Panama. Núi này có rất nhiều
khỉ nên c̣n được người Mỹ gọi là “Núi Khỉ”, Monkey Mountain.
Dưới chân núi có băi biển Tiên Sa, có Bộ Chỉ Huy của Hải Quân Vùng I, có Ban Công
Tác Đặc Biệt của Biệt Hải, Hải Quân Việt Nam.
| Subject: |
Lính Thành Phố |
|
| Author: |
THIENBANG3 |
|
Lính thành phố
(Sau Lam Sơn 719)
Ta đang lang thang ngoài phố trong ngày nghỉ th́ được tin tên "Dũng Quảng
Trị" (hắn người Quảng Trị) mới ra đi. Ta vội vă phóng vào phi đoàn
để được biết tụi nó bị pháo một quả súng cối nổ tung
trong pḥng lái khi đáp tiếp tế cho Thủy
Quân Lục Chiến. Cả hai tên phi công đều đi gọn. Chiến tranh càng khốc
liệt th́ sự tàn phá càng rùng rợn và mức độ chính xác làm ta ớn lạnh. Cả
hai đứa không đứa nào c̣n nguyên vẹn h́nh hài.
Thấy mặt ta anh Nguyễn-Anh-Toàn, Trưởng Pḥng Hành Quân, ngỏ ư muốn ta
đi mang hai tên c̣n sống về, Trung Sĩ "Kỳ" Cơ Phi, Trung Sĩ "Tống-Hy" Y Tá Phi
Hành, cả hai đang ở với quân bạn. Mặc dù là ngày ta nghỉ, ta lặng lẽ
xách đồ nghề ra tàu để thay cho câu trả lời. Ta biết ta sắp vào vùng giông
băo nên ta sợ mở lời sẽ làm cho tâm hồn ta mềm yếu. Ta chấp nhận phi
vụ v́ t́nh đồng đội và cũng v́ bổn phận. Nếu ta từ chối th́
người khác cũng phải đi nhưng họ lại không có được cái điều
kiện ta có. Quanh ta toàn những Hoa Tiêu Chính và Trưởng Phi Cơ mới được
xác định. Vả lại nếu ta bị bắn rơi, ta cũng nôn nóng muốn được
bạn bè đón về ngay như họ. Thêm vào đó nhà nghèo lại c̣n độc thân, th́ nếu
chẳng may có ra đi th́ sự mất mát cũng nhẹ nhàng hơn những người khác.
Với cái sự suy nghĩ đơn giản đó ta hùng hục đi bay, ít khi nào thắc
mắc. Đàn anh lạnh cẳng nhét ta vào vùng lửa đạn, ta chỉ cười mà thương
cho tên hoa tiêu phó. Ta ra trường vốn dĩ sữa, vừa tṛn 21 tuổi, thế nhưng
đàn em ta lại c̣n có đứa sữa hơn ta. Ta nh́n tên hoa tiêu phó mà ḷng bâng khuâng e ngại.
Những ngày lễ lớn hay Tết Nhất, ta độc thân không có gia đ́nh ở Đà
Nẵng nên thường được các niên trưởng nhờ bay hộ để ở
nhà với vợ con, gia tộc trong ngày lễ. Ta không tin dị đoan mà chỉ tin vào số
mệnh, nên ít khi nào ta từ chối. Tuy nhiên những chuyến bay trong những ngày lễ
lớn hay Tết Nhất, thường là những chuyến bay thanh b́nh, vui vẻ, kèm theo những
giao tiếp thơ dại dễ thương nên ta hăng hái chấp nhận.
Tai nạn đến với tên Dũng làm ta sót sa cho thân phận con người.
Nó vừa được xác định Hoa Tiêu Chính không lâu, vợ mới có bầu ba tháng mà
lại đành rũ áo ra đi. Đời sao chó đến thế!. Ba phi hành đoàn ra tầu.
Ta bay trực thăng thường, "Toàn xẹo" và "Thục Xích Lô" bay trực thăng vơ trang
. Ba chiếc nối đuôi nhau ra đường di chuyển cất cánh phi đạo 35 phải
về hướng Bắc. Chúng ta rong ruổi theo Quốc lộ I ra Đông Hà. Trời vào Đông
lành lạnh với mưa phùn, cảnh trời chiều sao thê lương ảm đạm.
Ta không hiểu có phải điềm trời tiễn ta đi vào nơi vô định hay không?
Ta chỉ biết ḷng ta đang trùng xuống, ngổn ngang với những lo sợ vẩn
vơ. Ta bay ra Đông Hà trong câm lặng. Đến Đông Hà, nhận chi tiết nơi người
sĩ quan Ban-3 Thuỷ Quân Lục Chiến về vị trí băi
đáp, vị thế băi đáp, tần số liên lạc, tần số giải tỏa. Tên
sĩ quan Ban-3 này hắn thật là chân thành, hắn diễn tả t́nh trạng băi đáp làm
ta ớn lạnh da gà chỉ muốn bị trật chân ngă xuống
để rồi quay về Đà Nẵng. Ta lo sợ trong câm nín rồi
tự an ủi, tự nhủ ḷng ḿnh là số ta chưa tận. Đến vùng lửa đạn
ta mới thấy sự hóc hiểm của phi vụ ta đang thi hành. Băi đáp nhỏ chỉ
vừa cho một chiếc trực thăng đáp, nằm chơ vơ lộ thiên trên đỉnh
núi nh́n xuống về hướng Tây là thung lũng Ba-Ḷng . Tọa
độ có sẵn, nếu địch pháo chắc chắn chẳng có quả nào lọt ra
ngoài băi đáp cả. Ta mới xuất hiện trên vùng chưa đầy năm phút mà quân bạn
đă được tặng trên bốn chục quả súng cối. Áp lực nặng nề,
quân bạn yêu cầu ta rời vùng v́ nếu ta c̣n lởn vởn th́ số thương vong
trên mặt đất sẽ gia tăng. Trên đường về Huế ta nhớ đến
Mẹ ta, ta nhớ đến người yêu, ta nhớ đến Chúa. Cái lon Đại-Úy
Đặc Cách Mặt Trận ta mới mang vẫn chưa có tiền khao anh em.
Về đáp Huế, ra quán cơm 76 ăn cơm. Người em gái nhỏ Đồng
Khánh của quán cơm 76 vẫn dễ thương xinh đẹp với nụ cười
vừa thoáng lướt qua khung cửa. Bữa
cơm sao ta nuốt không trôi dù là miếng cơm có pha nụ cười Đồng Khánh. Huế
về đêm như thành phố chết. Mưa phùn lất phất rơi trên đường
vắng và gió lạnh len lỏi rít lên trên hè phố. Đêm đó ta không tài nào dỗ được
giấc ngủ, ta mất ngủ. Nỗi lo sợ làm ta mất đi phản ứng b́nh thường
của cơ thể . Ta trằn trọc thao thức trong đêm. Ta nằm dài để cho
kỷ niệm tràn về phủ kín tâm tư. Ta nhớ đến mẹ ta, ta nhớ đến
thời thơ ấu lúc mẹ ta c̣n sống. Ta thấy được cảnh ta lăng xăng
trong đám táng Mẹ ta. Lúc lớn lên, đi học và đi lính. Kỷ niệm tràn về như
cuồng lưu bất tận. Luồng tư tưởng ta xáo trộn. Tối nay không lại
chắc người yêu ta lại giận hờn mất ngủ. Bạn bè ta thắc mắc
sao ta câm nín suốt đoạn đường, mặc dù ta là một tên nói nhiều. Em ruột
ta có lẽ bây giờ đă măn khóa đang chờ đợi ra đơn vị. Không hiểu
nó sẽ nghĩ ǵ khi được tin ta đi luôn. Ta thật sự lạnh cẳng, ta thật
sự lo sợ nhưng không dám thổ lộ cùng ai; v́ nói ra sợ làm nản ḷng bạn bè và
tạo cái huông hèn nhát cho chính ḿnh. Ta yên lặng nằm chờ sáng. Gà gáy tiếng đầu
trong xóm xa, ta vội vàng trổi dậy đánh thức mọi người. Bạn bè ta hơi
phiền v́ bị dậy sớm, nhưng như hiểu được tâm trạng của
ta nên tất cả đều yên lặng. Ba phi hành đoàn lầm lũi ra phi trường
Thành Nội Huế khi sương khuya vẫn c̣n lởn vởn trên mặt đất và ánh
dương vẫn c̣n khuất nẻo nơi chân trời. Ta nói với anh Toàn và Thục lên
5.000 bộ bay luẩn quẩn giữa Ba Ḷng và Khe Sanh. Ta lao vào mục tiêu, vô tuyến lại
hỏng không liên lạc được với quân bạn. Ta nhờ anh Toàn liên lạc để
yêu cầu quân bạn cho thương binh cũng như hai tên Không Quân sẵn sàng ra băi đáp
để khi tầu vừa chạm đất là tất cả có thể lên tàu trong ṿng tích
tắc và tuyệt đối là không khói mầu, nhớ là không khói mầu.
Ta lao vào thung lũng, áp dụng một lối bay nguy
hiểm nhất trong nghề hầu tạo bất ngờ với quân địch. Ta len lỏi
trong khe núi, bay ngược theo sườn núi để lên đỉnh. Dọc sườn
núi ta thấy đó đây những mảnh vụn của phi cơ bị pháo kích hôm qua. Bên
trái ta chiếc cánh quat rách nát tơi tả vắt vẻo nằm trên cành cây, bên phải ta cái
cửa chính móp méo nằm tênh hênh trên bờ cỏ. Trước mặt ta quân bạn đang
lục lọi trong những mảnh vụn của phi cơ để thu nhặt h́nh hài c̣n
sót lại của hai phi công. Ta lo sợ, thân thể ta tê cứng, chân ta lạnh ngắt; lần
đầu tiên trong đời ta hiểu được trọn vẹn ư nghĩa của từ
ngữ "lạnh cẳng", cũng là lần đầu tiên trong đời ta biết sợ
và sợ thật sự. Ta chỉ muốn bẻ ngang cần lái, quay 180 độ, rời vùng
huỷ bỏ phi vụ, về Đà-Nẵng. Nhưng không hiểu sao ta vẫn đi lên và
đi lên măi. Đến đỉnh núi, ta bàng hoàng ớn lạnh v́ một quả khói màu đỏ
đang bùng cháy lên trên băi đáp. Màu đỏ của quả khói hoà với ánh sáng vàng nhạt
nơi phương Đông trong buổi b́nh minh làm nền phía sau lưng, tạo nên h́nh ảnh
lá Quốc Kỳ như sẵn sàng ấp ủ h́nh hài người chiến sĩ ra đi.
Chết!, quân bạn hại ta rồi. Phi cơ chạm đất cùng một lần với
hàng chục quả pháo, bui che lấp phủ kín thân tầu. Anh Toàn và Thục hét lên réo gọi
tên ta trên tần số. Họ tiếp tục réo gọi và hỏi han về t́nh trạng an
toàn của ta. Ta không có th́ giờ để trả lời. Trung Sĩ Cần, cơ phi, hốt
hoảng báo cáo tàu bị đứt đuôi. Ta b́nh tĩnh nhấc nhẹ tầu và ấn chân
vào bàn đạp, ta cảm thấy vẫn điều khiển
được phần đuôi, thế là ta tuột núi. Tất cả chỉ xảy ra trong
ṿng một tích tắc, ta đă mang được hai tên Không Quân c̣n sống và năm thương
binh Thủy Quân Lục Chiến ra khỏi vùng. Ta bay thấp trên ngọn cây. Mầu phi cơ
trộn lẫn với mầu cây rừng khiến anh Toàn và Thục tiếp tục réo gọi
tên ta trên tần số. Lúc đó hàm ta tê cứng, ta không nói được. Ra khỏi vùng ta
giảm tốc độ c̣n 80 knots và lấy cao độ an toàn 500 bộ trên mặt đất
để tạo điều kiện lư tưởng pḥng trường hợp bất trắc
xảy ra; ta sẵn sàng đáp khẩn cấp. Cho đến khi nh́n thấy thành Quảng Trị
ta mới hoàn toàn lấy lại được b́nh tĩnh để báo cho anh Toàn và Thục
biết để rời vùng. Anh Toàn và Thục rời vùng. Về đến Quảng Trị,
anh Toàn muốn ta trở lại băi đáp để mang xác của hai hoa tiêu về; chẳng
đặng đừng ta phải nói thật là ta đă lo sợ từ ngày hôm qua nhưng không
dám nói. Bây giờ th́ người sống đă mang về rồi, người chết đă
chết rồi có thêm mạng sống của ta th́ họ cũng chẳng sống lại được,
thôi nhờ quân bạn mang xác hai tên đó đến một băi đáp khác an toàn hơn. Chiều
hôm đó "Hoàn Cánh Gà Chiên Bơ" đă đón được xác hai hoa tiêu tại một băi đáp
khác bên kia sườn núi.
Sau khi Kỳ và Tống-Hy được băng bó tạm, ta cẩn thận kiểm
soát lại tầu rồi đưa họ trở về Đà-Nẵng. Thành phố Đà-Nẵng
về sáng sao an b́nh, xinh đẹp và thơ mộng. Chả hiểu ai kia đang trong chăn
ấm nệm êm có biết rằng: “Ta, Người Lính Thành Phố, vừa trở về
từ chốn không mấy b́nh yên”.
KQ Trần-Văn-Ngọc
PĐ-213 PĐ-241 |
| Subject: |
Gunship trên lưới lửa Bastogne |
|
| Author: |
hopp |
|
|
Nhân đọc bài " Lính thành phố " ciủa N/T THIENBANG3 KQ Trần-Văn-Ngọc
chợt nhớ tới bài này tôi đọc đă lâu rồi, viết xuống để
cùng ôn lại những kỹ niệm của một thời đă qua .
Gunship trên lưới
lửa Bastogne "November" Huỳnh Hữu Nghị * * *
(Nhóm Nhà Văn Quân Đội trân
trọng giới thiệu đến quư độc giả và quư chiến hữu bài viết
của November Huỳnh Hữu Nghị/Lyon/Pháp, được trích trong tập 2 "Những Trận
Đánh Không Tên Trong Quân Sử" đă phát hành vào ngày Quân Lực 19/6/2006/ HT)
* * *
Anh vẫn
c̣n bay măi Đời anh như khói sương Em ngổn ngang trăm mối Theo anh suốt
đêm trường...
Quảng Trị ch́m trong chiến trường "mùa hè đỏ
lửa" ngùn ngụt khói súng trên từng tấc đất giao tranh, ác liệt, đẫm máu.
Phía Tây Thừa Thiên, cứ điểm Bastogne, một tiền đồn biên trấn do một
đơn vị nhỏ thuộc SĐ1BB trấn giữ, sừng sững thách thức nhô lên giữa
núi đồi âm u đầy bóng Bắc quân. Những cơn gió Lào hừng hực có lẽ
không thấm vào đâu nếu Bắc quân dùng biển người và biển lửa để
bứng gốc Bastogne. Người lính đèo heo hút gió và ĺ đ̣n của Bastogne đă chong
súng đợi những cuộc tấn công của địch có thể xẩy ra bất cứ
lúc nào.
Thật vậy. Mùa hè đỏ lửa, chiến trường Quảng -Trị
đang diễn ra ác liệt, đôi bên quyết tâm tranh giành nhau từng tấc đất.
Đầu tháng 4 - 1972, Bắc quân tung vào chiến trường một trận đánh quyết
liệt nhằm bứng chốt cứ điểm Bastogne do một đơn vị bé nhỏ
trấn biên của SĐ1BB dưới quyền Tư lệnh của Thiếu tướng Nguyễn
văn Phú, để uy hiếp và làm chủ biên giới phía tây tỉnh Thừa Thiên. Họ
đă huy động một lực lượng gấp trăm lần hơn về quân số
lẫn vũ khí. Cả một trung đoàn chính quy được tăng cường thiết
giáp và một trung đoàn Pháo binh pḥng không yểm trợ. Chiến thuật sở trường
của họ vẫn là "tiền pháo hậu xung".
Sau khi pháo tơi tả, tan nát mục
tiêu, tưởng chừng một con kiến cũng không c̣n trên mặt đất đá Bastongne,
Bắc quân tung ra những cuộc tấn công tràn ngập biển người để xóa
sổ đơn vị trú pḥng, nhưng những người chiến sĩ anh dũng của
QLVNCH nơi đây vẫn hiên ngang cố thủ và chống trả quyết liệt để
cứ điểm Bastogne vẫn sừng sững với núi sông. Tập san NAM của Pháp sau
nầy có viết "Tại sao Bastogne không mất, là một phép lạ!"
Pháo binh pḥng không
của địch dầy đặc như cây rừng, gồm đủ các loại từ
trung liên Tiệp Khắc, thượng liên RPD tới 12ly7, 12ly8 canon 20, 23ly, 37 ly, 57 ly, 83 ly và
nhiều loại tối tân khác, kể cả hỏa tiễn tầm nhiệt SA7... được
tận dụng nhằm ngăn chận mọi sự can thiệp của không quân. Với cường
lực đó đương nhiên họ có khả năng loại những "tên giặc lái tàu
bay lên thẳng" ra ngoài chiến trận. "Chuồn chuồn", bất cứ loại nào, vào lưới
lửa này của Bắc quân, nếu không nát thây cũng cháy cánh.
Bây giờ, mọi sự
tiếp tế cho quân trú pḥng do C130 Hercule đảm nhận. Nhưng v́ đỉnh núi cũng
như cứ điểm Bastogne quá nhỏ nên may lắm mới có một hai cánh dù bay lạc
vào, c̣n hầu hết đều rơi trong vùng đất địch, hóa ra ḿnh tiếp tế
cho kẻ thù, ngay cả những kiện hàng rớt trên hàng rào cứ điểm cũng không
ai dám ḅ ra lấy v́ những tên chuyên môn bắn sẻ ẩn náu chung quanh các triền núi và bám
sát, sẵn sàng tỉa từng mục tiêu một. Cuối cùng, Quân Đoàn phải viện đến
phi đoàn Trực thăng vận và vơ trang FĐ 213/ SĐ1KQ từ Đà Nẵng cùng với những
Phi công điêu luyện trở lại chiến trường để t́m cách cứu văn t́nh
thế vô cùng tuyệt vọng của quân trú pḥng đang trong cơn hấp hối, từng
giây từng phút đợi chờ giọt nước hồi sinh. Cái hy vọng của người
lính biên trấn nầy nhỏ bé như thế. Chưa đầy một tháng mà họ đă
trải qua hết mười tám tầng địa ngục, thiếu thốn tất cả
mọi thứ cần thiết cho sự pḥng thủ từ vũ khí đạn được,
lương thực, thuốc men và cả quân số cũng hao hụt trầm trọng. Làm
sao thân xác con người có thể tồn tại để hứng chịu ngày đêm mưa
pháo và những đợt tấn công biển người... Thế là chúng tôi có mặt bên cạnh
Bộ Tư Lệnh SĐ1BB tại Dạ lê.
Với cường độ chiến trường
và sức mạnh mănh liệt của pḥng không địch đă làm khả năng tiếp cận
của trực thăng với Bastonge không thể thực hiện được. V́ bay chậm
và thấp, chúng tôi luôn luôn hoạt động trong khu vực DMZ (Death man zone - vùng tử địa).
Chưa kể vũ khí pḥng không và vũ khí cộng đồng, tất cả các loại vũ
khí cá nhân đều bắn tới. Chúng tôi nghĩ đến những vệt sáng xanh của
hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 phóng lên nhanh như cắt từ rừng núi âm u lao vào ống
phản lực như Lệnh xé xác hay Tàn chi quái đao, địch thủ chỉ c̣n nắm
tro tàn không xương cốt. Nỗi lo ngại tiếp cận chiến trường khốc
liệt đó hiện rơ trên khuông mặt mỗi người khiến bầu không khí Biệt
đội trở nên trằm lặng, vắng tiếng cười rộ chọc phá của
những anh Cơ phi, Xạ thủ hay những căi vă trong bàn sập xám chướng, tiếng
chiếu quân cờ. Con bài tẩy chúng tôi người ta chưa lật vội, vẫn c̣n chờ
tố nhau xả láng nay mai.
Chúng tôi chờ đợi, đợi chờ với hy vọng
mong manh, mây mù hay sương đêm rừng núi làm bức màn che mắt địch để
bất ngờ đổ bộ vào tiếp tế cho cứ điểm, dù chỉ để
kéo dài thêm hơi thở cuối cùng của quân bạn trước lúc vị quốc vong thân,
v́ không ai dám nghĩ Bastogne có thể tồn tại như vẫn tồn tại măi sau nầy.
Mới chiều hôm qua khi màn đêm vừa buông xuống, chúng tôi kéo nhau ra công sự pḥng thủ
nh́n về chiến trường xa xa trong rừng núi, vỗ tay cổ vơ những chiếc Hỏa
long AC47 (Spooky) từ trên đánh xuống, bên dưới cũng không vừa, pḥng không địch
thi đua bắn trả, làn đạn lửa giao nhau xé nát không gian làm rực sáng cả góc
trời. Đúng là cảnh Long Hổ tranh hùng trời long đất lở, và chính nơi tử
khí đang vùn vụt xông lên đó cũng là nơi chúng tôi ước hẹn mai nầy trên đỉnh
Bastogne.
Chuyện ǵ dến rồi cũng đến. Chiều tàn, mây thưa theo ngọn
gió bấc về trắng xóa bầu trời, tôi đang say sưa tụng bộ "Tiếu ngạo
giang hồ" trong câu lạc bộ bỏ túi của Biệt đội th́ thiếu tá Nguyễn
Anh Toàn vào gọi tôi ra ngoài.
- November, lợi dụng trời đang kéo mây, ḿnh lấy
hai cái Gunship (trực thăng vơ trang) làm cho tụi nó một chuyến đi.
Tôi hỏi
lại.
- Gunship nặng quá đâu chuyên chở được bao nhiêu?
- Ḿnh hạ
hai giàn rocket xuống và tháo bớt đạn của hai khẩu Minigun ra, chỉ chừa lại
vừa đủ để tự vệ thôi.
Tôi ngại ngùng nói:
- Liệu ḿnh
có qua nỗi không đây?
- Anh đi gom Phi hành đoàn anh lại đi, ḿnh bắt tay vào
việc ngay bây giờ để kịp trước khi trời tối, lên trời rồi
sẽ liệu sau!
Thế là chúng tôi mỗi người một việc. Kiểm soát toàn
bộ máy bay, tháo gỡ rocket đạn dược, nhất là hai khẩu Minigun như hai vị
thần hộ mạng được kiểm soát kỹ lưỡng hơn và cùng với anh
em khác chất hàng tiếp tế lên tàu. Chừng mười lăm phút sau hai chiếc Gunship
bất đắc dĩ trở thành hai cái Slick (trực thăng vận) có mặt giữa khoảng
trời xanh, bay là đà trên làn mây bao la trắng xóa phiêu bồng. Khi cất cánh chúng tôi bay về
phía đông theo khoảng trống trên mây để nghi binh, ṿng ra Huế rồi mới chuyển
hướng tiến về mục tiêu trong rừng núi. Mặc dầu hai con tàu đang chấp
cánh vẫy vùng trên ngàn mây gió nhưng bầu không khí yên lặng nặng nề ngột ngạt
bao trùm mà trong ḷng mỗi người cùng lo cho số phận chung. Lát nữa đây biết
có c̣n cùng nhau tung cánh trở lại trời xanh, hay kẻ may mắn trở về, người
không may người ở lại chiến trường thiên thu cùng những giọt sương
mai, hay thân xác quyện cùng làn khói mỏng trên rừng thẩm với bao niềm u uất. Bỗng
có tiếng của anh Đương, xạ thủ, như để phá tan sự ngột ngạt
ấy:
- Ḱa nh́n xem, mấy đám mây hồng đẹp như má hồng con gái hẹn
kép lần đầu!
Có tiếng đáp lại:
- Thôi đi ông, bao nhiêu bà rồi
c̣n chưa đủ sao mà c̣n lần đầu lần cuối, hăy lo cho cái mạng của
ông bây giờ đi!
Nghe họ kháo nhau, lúc bây giờ tôi mới nh́n kỹ thấy mây ửng
hồng như giải lụa đào nhuộm bởi ráng chiều c̣n sót lại, thơ mộng
như cảnh non bồng trong huyền thoại Lưu Nguyễn ngày xưa; nhưng nỗi
lo héo hắt canh cánh bên ḷng th́ c̣n ḷng da ỳnào chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên thai,
thần tiên huyền hoặc hiếm hoi ấy mà dưới thế gian mấy ai có dịp
ngắm nh́n. (*)
Trở lại chuyến không tŕnh hướng về Bastogne, tôi nghe thiếu
tá Toàn gọi:
- Gun hai đây một! Anh thấy khoảng trống xa xa hướng hai
giờ chưa? Hy vọng nó sẽ bay qua mục tiêu, ḿnh theo nó đi. Kiểm soát lại tàu
và chuẩn bị!
Tôi trả lời.
- Roger! (yes!)
Và nhắc nhở anh em sẵn
sàng vị thế tác chiến.
Chúng tôi bay thêm một ṿng nhỏ để đặt
ḿnh vào vị trí thích hợp sẵn sàng lao xuống khi mục tiêu vừa xuất hiện mà
không mất đi một giây khắc nào. Gun một là leader được yếu tố thuận
lợi "bất ngờ", c̣n tôi là Wing-man yếu tố bất ngờ quyết định quan
trọng sự sống c̣n đó dĩ nhiên không c̣n nữa, chiến trường bị động,
pḥng không tua tủa châu vào và pháo binh của họ cũng được điều chỉnh
tọa độ chính xác từ khuya để sẵn sàng nhả đạn vào băi khi chúng tôi
tà tà đáp xuống. Sơn pháo 130 ly, đại bác 123 ly, hỏa tiễn 122 ly hai ba mươi
cây số từ xa dộng tới làm sao chúng tôi biết được, súng cối đủ
loại chung quanh được dịp cho những thằng nhóc con mười bốn mười
lăm tuổi đầu xiềng chân vào khẩu pháo học đ̣i sinh Bắc tử Nam thụt
cối vào chúng tôi. Thôi đành vậy, khó ai lường trước được chuyện
ǵ sẽ đến.
Pháo vào băi đáp là nghề của chàng, không chỉ riêng ǵ những
Hot LZ như thế nầy, mà ngay cả những tiền đồn, cứ điểm cố
định, bề ngoài có vẻ b́nh yên, nhưng những khẩu cối của du kích luôn luôn
chực sẵn chào đón chúng tôi đáp xuống, đó là lúc điểm yếu nhất - con
chim đậu xuống đất, ḱnh ngư trong ao cạn - mặc t́nh đối phương
muốn hành hạ cỡ nào cũng được khi cá nằm trên thớt, họ chỉ
cần làm một cữ chỉ vuốt tay nhẹ nhàng dọc theo ṇng súng, con nhạn là đà
- từ chết tới bị thương. Nỗi lo lắng càng lúc càng đong đầy
trong tim phổi theo từng hơi thở, theo từng nhịp chuyển của thời gian.
Ḍng suy nghĩ miên nam bỗng dưng bị cắt đứt, giờ thứ hai mươi
lăm khởi điểm. Thiếu tá Toàn gọi tiếp báo phút quyết định bắt
đầu.
- Gun hai đây một!
- Hai nghe!
- Chuẩn bị! Một bingo!
Gun một liền tách khỏi đội h́nh vùn vụt lao xuống mục tiêu như
con diều hâu bổ nhào xuống con mồi. Tôi kiểm soát lại tất cả đồng
hồ, phi kế, nhắc nhở phi hành đoàn khóa dây nịt an toàn và chú ư vào những điểm
khả nghi nơi có thể có pḥng không địch. Đợi vài giây nữa ước chừng
Gun một vừa rời băi đáp tôi bước chân vào. Thầm đếm một hai ba bốn.
. . tôi báo:
- Gun một! Đây hai bingo!
Tôi vội vă tách rời dám mây đang ẩn ḿnh,
bay cặp sát vách chân mây, chuyền qua đỉnh núi nầy sang đỉnh núi khác đuổi
theo chiếc gun một đang lao vút như vào cơi xa xăm mịt mờ miền miên viễn.
Mặc dù đă hạ hết cần lái cao độ và chúc nghiêng mũi lao xuống với
vận tốc tối đa muốn chóng mặt mà vẫn thấy c̣n chậm, làm sao nuốt
ba ngàn bộ trong ṿng vài giây, v́ mỗi giây khắt trong lúc nầy cũng trói cột sự tồn
vong của chúng tôi vào trong ấy. Tôi nghiêng thêm phía bên trái để gia tăng tốc độ
rơi nhanh thêm chút nữa theo cách đánh rocket "Falling leaves" chiếc lá rơi.
Tàu càng xuống
thấp, đỉnh núi cũng từ từ nhô lên cao, ẩn hiện giữa vùng rừng thẩm
âm u ch́m theo bóng hoàng hôn buồn thảm nhạt nḥa lất phất mây giăng. Bastogne đó
sao! Trên núi dưới rừng không c̣n màu xanh nữa mà trở nên màu xám đen như vừa
qua một trận hỏa thiêu khủng khiếp. Cây cối đứt đọt, trơ cành
trụi lá giữa mùa hoa nở - hoa dù, dù trái sáng, dù hỏa châu, dù tiếp tế đủ
loại đủ màu sắc trùm lên ngọn cây khô vung văi khắp nơi như những khóm
phong lan khổng lồ dành tặng riêng người chiến sĩ biên khu.
Càng tới
gần, cái h́nh ảnh một tiền đồn biên giới vượt xa ngoài sự tưởng
tượng thông thường, tưởng cứ điểm có chiến lũy hào sâu, có vọng
gác đêm sương hay ít ra cũng có bóng dáng cờ bay trước gió. Nhưng không, tất
cả cơ ngơi, công sự pḥng thủ điều bị sụp đổ tan hoang, cây
đá ngổn ngang như thuở hồng hoang thời tiền sử chưa có dấu chân người
bước đến. "Không lâu đài sao bóng cũng tịch dương".
Mỗi ngày
sơ sơ vài trăm trái đạn sơn pháo nổ sâu, nổ chụp trên đầu th́
làm ǵ nơi đây c̣n sự sống. Ṿng rào kẽm gai, cột sắt kiên cố từng ngăn
cản bao cuộc tấn công biển người bị cày xới nhiều nơi, những
g̣ đống xám ngắt điêu tàn vùi lấp những giao thông hào chen lẫn hố đạn
đại bác đủ loại lớn nhỏ, cạn sâu chồng chất lên nhau th́ c̣n lại
một chút ǵ để làm chứng nhân chiến địa kinh hồn và cái giá mà người
lính trấn biên thùy phải trả. Vả chăng chỉ có ư chí can trường, bất khuất
với tấm ḷng trung dũng của người lính Bộ binh SĐ1 mới có thể "trơ
gan cùng tuế nguyệt" nơi nầy. Ngoài ra không c̣n ǵ nữa, như ai đem cái mặt trăng
nhét vào giữa chốn non ngàn áo năo, dật dờ hồn ma bóng quế càng tăng cảnh thê
lương càng xót xa kiếp người biên ải. "Cảnh đấy người đây
luống đoạn trường".
Cuối cùng rồi cũng tới đích, băi đáp
lót bằng vỉ sắt đă bị đạn pháo hất tung ra ngoài, mặt đất như
vừa mới được lấp bằng vội vă đơn sơ chỉ vừa đủ
cho một con tàu đáp xuống. Cần ǵ, what will be will be, như thế nào rồi cũng
phải đáp và tất cả điều diễn ra đúng như dự tính, băi đáp bên
trái trong tầm, tôi kéo ngược cần lái giảm vận tốc và quẹo gắt 90 độ
tiến vào đúng lúc Gun một vừa cất cánh. Hàng tiếp tế chất hai bên hông tàu
bị đạp tung ra ngoài tức khắc, tôi lại vội vă cất cánh lên. Cũng ngay
lúc đó hằng loạt đạn lửa đuổi theo Gun một gần ngay trước
mặt, không dám bay theo, tôi liền chúc mũi xuống theo triền núi bên trái, chuyền qua sườn
núi khác, bay sát ngọn cây để màu tàu tiệp với màu lá rừng nhờ rừng cây che
chở, lấy vận tốc tối đa rồi kéo cần lái về phía sau, tàu vọt lên
gần như đường thẳng đứng, cất cánh hơi cowboy một chút để
lấy cao độ càng nhanh càng tốt và chui vô mây ẩn ḿnh, pḥng không xa xa c̣n vang như pháo
tết.
Tưởng rằng được về đến cơi b́nh yên sau phút giây đứng
tim, nghẹt thở và chẳng mấy chốc trở lại trời rộng tang bồng,
nhưng b́nh yên vẫn c̣n xa lắc càng bay vô mây càng dầy đặt tối đen. Tôi mở
đèn cockpit bay theo phi kế. Lúc bấy giờ không dám nh́n lên ra bên ngoài, có thấy ǵ đâu.
Mây theo gió và tốc độ tàu vùn vụt lướt tới ập vào mặt, pilot dễ
dàng bị vertigo, chóng mặt gây ra t́nh trạng hoa mắt dẫn đến mất cảm
giác thăng bằng, không c̣n nhận thức tàu nghiêng ngửa ra sau, tay chân không chịu làm việc
theo lệnh truyền của khối óc để điều chỉnh mọi sự sai lệch
và người phi công đi vào ảo giác tự giết ḿnh.
Trong mây gió bắt đầu
thổi càng lúc càng mạnh, tiếp theo những trận cuồng phong vùi dập phũ phàng.
Tàu lặn hụp trong mây như chiếc lá cuốn trôi trên ḍng thác đổ. Tôi vẫn tiếp
tục lấy cao độ, ít nhất cũng phải hơn ba ngàn bộ mới có thể
tránh khỏi sự đe dọa của những đỉnh núi chớm chở cao ngất
Trường sơn nhưng không dám thay đổi hướng bay về phía Đông như dự
định, v́ sợ tàu nghiêng mà không lấy lại được thăng bằng trong cơn
bối rối. Đang lo ngại chợt một tia sấm chớp đánh vụt ngang qua phía trước
làm cả tàu rực sáng. Hăi hùng quá, tôi không c̣n tự tin nơi khả năng ḿnh nữa, mặc
dầu đă hoàn tất khóa huấn luyện đặc biệt bay mây, mưa và thời tiết
xấu với những phi công lăo luyện của Đệ Thất Không lực Hoa Kỳ. Tôi đang
chới với như nắm được cái phao, Thiếu tá Toàn gọi:
- Gun hai đây
một! B́nh yên chưa?
- B́nh yên nhưng đang chui vô mây, dám mây nầy như thế nào
mà ghê quá, dũ tôi như cái mền rách. Anh ra ngoài chưa? Hăy rời xa mấy đám mây, coi
chừng tôi chui ra đụng nhau th́ khốn nạn cả hai! Như để trấn an tôi
anh nói: - B́nh tĩnh đi, một chút rồi sẽ ra, mây mỏng thôi!
Như thể thần
gió thần mây nổi giận thách thức khi lời thiếu tá Toàn vừa dứt, một
tia chớp kèm theo tiếng nổ long trời kế cận một bên, tiếp theo một luồng
gió mạnh - ầm – ầm... như có bàn tay khổng lồ bưng con tàu đưa lên
cao rồi dập xuống làm tàu tṛng trành, nghiêng ngửa lệch hướng bay, tất cả
phi kế điều bị xáo trộn. Thật là một nỗi kinh hoàng cha sanh mẹ đẻ
chưa từng gặp trong đời, tôi kêu anh Khương, co-pilot đọc tất cả
instrument và t́nh trạng phi kế để kiểm chứng xem giác quan của tôi c̣n đúng
không và yêu cầu anh báo ngay lập tức trường hợp bất b́nh thường cũng
như sẵn sàng bay nếu tôi bị vertige.
Trong mây lạnh mà mồ hôi tươm ướt
trán, tôi cố gắng lấy lại b́nh tĩnh kiểm soát những bắp thịt, cố
giăn gân cốt và tránh t́nh trạng gồng cứng rất dễ bị "over control" rồi tự
ḿnh tạo ra sự nguy hiểm khác. May mắn vài phút sau cảm thấy gió từ từ nhẹ
bớt, tàu ít bị nhồi sóng và mây cũng hơi loăng dần, tôi buông cần lái cao độ
bên tay trái để lau cặp mắt bị nḥe v́ đă dán chặt vào phi kế lập ḷe
ánh sáng mờ mờ ảo ảo. Lúc bấy giờ mới nhớ lời khuyên ngàn vàng của
bác sĩ Châu khám tổng quát lúc tôi t́nh nguyện gia nhập vào Không quân tại Cần thơ.
- Trên trời có một ḿnh, có chuyện ǵ một ḿnh ḿnh gánh hết đâu có ai giúp đỡ,
tại sao không đi Đà Lạt hay Hải quân lúc nào cũng có bạn bè chung quanh?
Tôi cố
viện lẽ:
- Dưới biển sóng gió ba đào mỗi ngày làm sao chịu nổi,
c̣n Bộ binh th́ phải lội śnh lầy quanh năm suốt tháng, vượt núi băng rừng
cũng vất vả như nhau...
Và tôi cố nằng nặc đ̣i ông phải chấp
thuận, đến lúc nầy mới thấm thía lời người đi trước. Dường
như có chút ánh sáng hiện xa xa phía bên phải, tôi từ từ chuyển hướng, chẳng
bao lâu chúng tôi thoát ra được bên ngoài cơi chết vấn vương. Đúng là - đường
trần ai có qua cầu mới hay. Nếu thật sự mỗi phút trong mây bằng trăm
năm dương thế th́ chúng tôi đă sống qua cả ngàn năm gian khổ cực h́nh.
Quay nh́n lại phía sau mới biết chúng tôi vừa bay xuyên qua chân mây h́nh cây nắm (Cumulo nimbus)
là hung thần giông tố tích nhiều điện, nước, sấm chớp, cuồng phong.
Tàn mây xám xịt c̣n lan rộng một vùng trời cao mịt mù... Chun vô mây v́ bất đắc
dĩ chớ không ai dại dột giỡn mặt với tử thần xem mạng sống
nhẹ như mớ bồng bông.
Trở về căn cứ trời đă tối, chúng
tôi kiểm soát lại tàu, trang bị lại rocket và đạn dược để sẵn
sàn thi hành nhiệm vụ mới nay mai. Phi hành đoàn thắc mắc:
- Ḿnh là Gunship chỉ
có đánh nhau sao lại đảm nhận công việc nguy hiểm mà không phải là phần
hành chuyên môn của ḿnh!
Tôi chỉ biết trả lời "tại v́ ḿnh đa năng
đa dụng mà!".
- Đành rằng ḿnh có nhiều khả năng hơn nhưng mỗi người
một việc. Mỗi cuộc hành quân ḿnh vào trước dọn băi đáp, gặp hot LZ (landing
zone), băi đáp bị phục kích ngay trong ḷng địch cũng bị dợt tơi bời
hoa lá, c̣n phải bảo vệ Bộ binh yên vị mới rời vùng. Những lần đi
đánh đêm giải tỏa áp lực cho những tiền đồn bị vây hăm chống
lại sự tràn ngập của đối phương vô cùng nguy hiểm mà có ai đánh thế
ḿnh đâu.
Tôi đành giả lả:
- Thôi đi kiếm ǵ ăn đi, phải
chi hồi năy ḿnh liệng xuống cho họ vài gói thuốc lá hay một chai xị đế
chắc họ đă đời đêm nay!
Tôi hoàn toàn thông cảm với những ưu
tư của anh em, v́ mỗi lần trực thăng vơ trang cất cánh là mỗi bận hành
quân, mỗi giờ bay là mỗi giờ chinh chiến. Đúng như Chinh Phụ ngâm than thở
"Những nhọc nhằn nào đă nghỉ ngơi". Quả thật chưa một phi vụ
nào của phi hành đoàn gunship được nhẹ nhàng để họ được
nghỉ ngơi ngắm vạn vật, đất trời hoặc thả hồn theo những
án mây bàng bạc lăng du. Khi bước lên tàu, định mệnh tùy thuộc hoàn toàn vào sự
quyết định sáng suốt, khả năng và vận rủi may của trưởng phi
cơ trên chiến trường. Riêng ḷng tôi rất vui v́ là những người đầu
tiên bước vào cứ điểm bắt tay với quân bạn kể từ khi họ bị
vây hăm giữa trùng vây, hẳn là một chia xẻ vô cùng lớn lao mặc dù phải mạo
hiểm vượt qua "Xưa nay chiến địa đường bao", "Nội không muôn
dặm xiết bao dăi dầu".
Thực tế phi vụ vừa qua cũng như mai nầy
là những yêu cầu theo khả năng và tinh thần trách nhiệm chứ không hẳn là quân
lệnh bắt buộc phải tuân hành, v́ ai cũng thấy rơ tương quan lực lượng
đôi bên cách xa nhau một trời một vực, chắc ǵ chúng tôi vượt qua được
hàng rào ngoại vi của địch mà bảo đảm được an toàn chứ đừng
nói ǵ đến đổ bộ vào cứ điểm.
Ngày thứ hai.
Đêm biệt
đội, giấc ngủ chập chờn nhiều dị mộng. Núi rừng dầy đặt
mù sương giờ ước hẹn đă đến. Thiếu tá Toàn đă về Đà Nẵng
từ chiều hôm qua để phi hành đoàn khác thay thế. Như vậy chỉ riêng phi
hành đoàn chúng tôi phải gánh vác trách nhiệm ". . . đi vào nơi gió cát" thêm một lần
nữa.Vừa mới đánh đu qua lằn ranh sống chết hôm qua hai bàn chân chưa đứng
vững b́nh yên trên mặt đất lại phải "Xông pha gió băi trăng ngàn". Trời c̣n
mờ tối, núi rừng c̣n say ngủ chúng tôi lặng lẽ lên đường. Bốn chiếc
slick, hai chiếc gunship theo bảo vệ. Vẫn là Wingman trách nhiệm thật nặng nề,
yểm trợ trực tiếp những chiếc lâm nguy và cấp cứu. Đoàn tàu bay thật
thấp trên giải mù sương, tựa lưng vào vách núi để giới hạn sự
quan sát và tầm tác xạ của những khẩu pḥng không hạng nặng tầm xa. Bay như
vậy chúng tôi đành phải hứng chịu trọn vẹn những lằn đạn của
tất cả các loại vũ khí nhẹ c̣n hơn lănh đạn pḥng không và nhất là loại
SA7.
Đoàn tàu lầm lũi bay vào cơi xa mưa gió như những bóng ma. Cũng một sự
yên lặng bao trùm. Cái yên lặng không giống như chiều hôm qua.Yên lặng giữa chiến
trường rờn rợn như báo hiệu chuyện ǵ khủng khiếp sắp xảy
đến. Tại sao không ai nói lời nào hết! Anh Đương đâu sao không nói mây hồng
như má "con gái" ǵ đó, sương rừng núi cũng trắng xóa, mịn màng như làn da
cô dâu ngày cưới đẹp lắm mà. C̣n đối phương nữa, sao không khai hỏa
để chúng tôi c̣n biết đường né tránh, đánh trả hay cùng lắm mượn
đỡ chiêu "Lăng ba vi bộ" của Vi Tiểu Bảo - chạy - là thượng sách.
Hay họ định đập chúng tôi bằng pháo binh ngay trên băi đáp! Khi nghĩ tới
ư đồ đen tối đó của địch, tôi vội báo lên CNC để nhắc nhở
anh em cảnh giác.
Rơ ràng họ muốn làm cỏ chúng tôi và nhổ tận gốc rễ
để trả đ̣n đau mà hai chiếc gunship đă dám qua mặt họ chiều hôm qua.
Tôi bắt đầu run, không phải v́ lạnh của khí hậu rừng núi ban mai mà v́ sợ.
Cái sợ không giống nỗi sợ hôm qua c̣n dính trên da thịt khi bị cuốn hút trong mây
ngoài dự tính. Sợ bây giờ có thứ tự, lớp lang như người ta bắt con
đê tế thần, trói lại, kề dao vào cổ, chờ đợi cứa. . . mạch
máu. Không sợ sao được v́ phi đoàn tôi đă chịu đựng và hy sinh quá nhiều
từ chiến dịch Lam Sơn 719 Hạ Lào đến Mùa Hè Đỏ Lửa, trên khắp chiến
trường Trị - Thiên. Đại úy Trần Lê Tiến vừa găy cánh đại bàng trên đỉnh
Checkmat khiến đơn vị phủ đậm màu tang đến đỗi thượng
cấp có ư định đổi con số 2 lần 13 (213) xui xẻo thành số hên nào khác,
216 chẳng hạn, 9 nút để hóa giải bớt con số tử vong của đn vị.
Hôm nay phải chăng thêm một ngày tang tóc nữa!
Bốn chiếc slick lần lượt
đáp xuống cứ điểm và cất cánh trở lại b́nh yên. Sao lạ vậy! Không
cần t́m hiểu nguyên nhân, miễn sao tất cả b́nh yên là hạnh phúc lắm rồi, tôi
mừng thầm, vài phút nưă thôi chúng tôi sẽ đón chào một b́nh minh rực rỡ. "Bổn
phận thi hành xong, thao diễn nghĩ ". Chợt có tiếng hốt hoảng vang lên trong nón
bay:
- May day, may day! King star Bốn bị bắn. . .
Thôi, cuối cùng cũng không
tránh khỏi một con nhạn sấp ĺa bầy. Nhưng c̣n gọi cấp cứu, c̣n báo được
copilot bị thương chắc chưa đến nỗi nào. Nh́n qua bên cạnh thấy chiếc
slick bốn do trung úy Cao văn Gốc lái đang bay lảo đảo như sấp đâm
đầu xuống đất. Tôi ṿng lại bảo vệ anh và nói:
- Kingstar Bốn
cố bay lên, tiếp tục rời vùng, tôi yểm trợ đánh dọc đường anh
ra!
Và ngay lập tức tôi ra lệnh cho hai anh xạ thủ tác xạ tự do. Tuy nói
vậy nhưng chưa kịp ra tay th́ Bắc quân đă xuất chiêu trước, cuốn chúng
tôi vào giữa ṿng vây lửa đạn. Như cháy rừng, lửa hừng hực vút tận
trời xanh, lửa kéo thành sợi, kết thành chùm, đan nhau thành lưới lửa bủa
giăng khắp nẻo. Đạn địch bắn thẳng, bắn xéo, bắn nghiêng, bắn
chụm về phía chúng tôi. Một viên đạn lửa kéo theo năm viên đạn vô h́nh.
Đạn đại bác pḥng không tự hủy nở hoa giữa trời, nổ ra cả ngàn
miểng vụn lập ḷe như pháo bông, như sắm chớp, khói đen chen nhau kết thành
lớp mây xám che kín mảng trời xanh. Hai xạ thủ điều khiển hai khẩu minigun
gầm lên như bầy hổ dữ tự động đánh trả, cùng nhau trút xuống
tám ngàn viên đạn mỗi phút làm tàu run lên từng chập như muốn ră ra. Mới hồi
năy đây sự yên lặng rùng rợn bao nhiêu th́ bây giờ âm thanh hỗn loạn, ầm ầm
đạn tên ḥa điệu càng thêm hăi hùng, ma quái bay nhiêu! Vậy mà tai tôi vẫn nghe rơ tiếng
đạn thù xâu xé con tàu. Loại đạn cỡ lớn của vũ khí cộng đồng
12ly7 hay 12ly8 trúng đùi đụi như tiếng tiều phu đốn gỗ đẩy dạt
con tàu như lá rụng mùa thu, đạn nhỏ trung liên Tiệp Khắc, thượng liên
RPD, tiểu liên AK47 xuyên qua như tiếng dao cô hàng róc mía róc con tàu lạnh buốt thấu
xương. Chợt tôi giựt ḿnh khi không c̣n nghe tiếng súng minigun bên trái rót đạn gịn
tai nữa, quay lại thấy anh Hết, xạ thủ đang nạy ṇng súng trong khi làn đạn
của đối phương từ phía sau đang thổi thẳng tới. Trời ơi!
Tôi chỉ c̣n biết hét anh – "nằm xuống!" và xoay tàu lại cho khẩu minigun bên phải
chống trả, cùng lúc tôi đánh ra hai trái rocket dập một vị trí hỏa lực khác.
Súng không hư làm sao được khi họ đă bắn vượt ra ngoài tốc
độ tác xạ hạn định. Bây giờ chúng tôi chỉ c̣n mỗi khẩu Mini gun
duy nhất. Chúng tôi như kiếm sĩ bị chặt đứt một cánh tay trong lúc giao
chiến, hay con cua găy càng cũng thế. Tôi nhắc nhở xạ thủ thận trọng
ǵn giữ súng. Từ bên ngoài, gun một đă yểm trợ đoàn tàu rời trận địa
b́nh yên và tất cả cùng đang lo lắng cho chúng tôi. Nghe tiếng Thượng sĩ Ái hét
lên trong vô tuyến.
- Trời ơi! November bị bắn quá rồi, làm sao cứu ảnh
với!
Đại úy Nguyễn Như Nguyện gọi máy hướng dẫn tôi thoát về
hướng Lào, nhưng c̣n chỗ nào nữa mà bay! Trên dưới, chung quanh tàu tôi bị lưới
lửa vây kín như con chim bị nhốt trong lồng. Chúng tôi thực sự trở thành bia
bắn của đủ các loại pḥng không địch. Mới chiều nào vỗ tay cổ
vơ những chiếc Spooky, bây giờ chính ḿnh làm con thiêu thân cố nhoài ra ngoài bếp lửa
rừng thiêng, th́ cả ngàn tay súng của kẻ thù lại cố lôi kéo ngược tàu tôi vào
cảnh "tên gieo đầu ngựa giáo đan mặt thành", đến nỗi cái sợ tràn
ngập không c̣n chỗ chứa chớ đời nào dám "nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ
cây". Tàu vẫn lượn ṿng trồi lên hụp xuống núi đồi cầu may một kẽ
hở nào đó thoát ra ngoài. Một phút đếm nhịp tim đập tám chục lần
cũng thấy đà lâu lắm. Vài phút thôi người yêu chưa thấy bóng đă mấy
bận ngồi đứng không yên, vậy mà giờ đây, thời gian dài như thiên thu đă
cuốn chúng tôi vào trong lửa khói ngụt trời. Một phút, hai phút rồi ba phút trôi qua như
hằng bao thế kỷ với tai nghe đạn réo tên bay, mắt mở rộng nh́n đạn
thù xuyên kẽ lá, xoi lớp mù sương dật đờ làn khói mỏng đeo đuổi
ngấu nghiến con tàu. Thời gian như ngừng trôi, lắng đọng để tất
cả những h́nh ảnh hai mươi bốn tuổi đời hiện ra như một
bức hoành phi trước mặt, h́nh ảnh thằng lính tây lôi kéo lê lết dưới đất
lúc tuổi ấu thơ đến nắng thao trường mồ hôi thấm đổ, hănh
điện đôi cánh đại bàng trước ngực áo bay, đến lỗi lầm làm
buồn tím thẳm áo Trưng Vương. . . và nhất là h́nh ảnh đứa con gái đầu
ḷng lên hai tuổi sốt ruột chờ cha mỗi chuyến không hànhà đă giựt tôi ra khỏi
cơn mê, bừng tỉnh. Tôi phải sống. Từ phút giây ra khỏi lạc thần đó,
bản tính nhanh nhẹn, sự b́nh tĩnh cố hữu trở về, tôi hướng dẫn
hỏa tập, nh́n theo làn đạn minigun như rồng phung lửa với tài tác xạ tuyệt
vời của xạ thủ áp đảo đối phương giúp tôi lên tinh thần trở
lại và quyết định mở huyết lộ một mất một c̣n. Trung liên Tiệp
khắc và thượng liên RPD là vũ khí chống cá nhân siêu hạng và đáng ngại của
đối phương. Khi khai hỏa, đạn nổ gịn giă không ngừng làm cuống chân
địch thủ. Tuy nhiên nhờ tiếng nổ liên tục kéo theo từng chùm đạn
lửa làm cho chúng tôi dễ dàng nhận diện hơn bất cứ loại vũ khí nào khác.
Do đó thay v́ là thợ săn, họ trở thành con mồi cho mini gun và rocket mặc sức
tung hoành...
Tôi gọi anh Khương chuyển nút rocket nhưng không thấy động
tĩnh ǵ. Trời ơi anh đă chết rồi sao! Sao nhanh chóng và b́nh yên quá, đến đỗi
cách nhau gang tấc mà không ai hay biết ǵ. Tôi tự vói tay ra sau điều khiển lấy
núm chuyển rocket, không cần chọn lựa loại nào chống biển người, chống
chiến xa hay công sự pḥng thủ, tôi quyết định đồng loạt tung hết
mười hai trái rocket c̣n lại tố xả láng vào những vị trí hỏa lực đối
địch trước mặt như bức màn sắt chận đường. V́ đánh
quá gần và quá thấp, lại nữa v́ đă buông cần lái cao độ để chuyển
vận nút rocket nên tôi không kịp kéo lên, đành để tàu sà xuống ngọn cây lướt
qua mục tiêu đến đổi bị đất cát do rocket ḿnh vừa mới đánh
ra nổ văng lên đầy. Chính nhờ lướt càng qua đầu địch mà chúng
tôi đă vượt ra được ngoại biên chiến trường. Tuy vậy cũng
chưa tránh khỏi tầm đạn của những khẩu pḥng không hạng nặng từ
xa, những khối lửa xanh dờn như sao chổi đuổi theo bén gót.
Bất
ngờ một ḍng suối xuất hiện vừa đúng lúc như vị cứu tinh, tôi vội
lướt tàu, lạn lách giữa những ngọn cây cao thoát ra ngoài trong lúc khẩu mini gun
c̣n bắn vói về phía sau như đáp lễ giă từ chiến trận c̣n vương khói
súng trên mây.
Về phía trực thăng vơ trang, mặc dầu bay chậm nhưng
nhờ tính cơ động, xoay trở nhanh nhẹn nên pilot gunship, ngoài tấn công mục
tiêu chính đă chọn lựa, có thể tấn công cùng một lúc nhiều vị trí khác hai
bên hoặc rải rocket như h́nh rẻ quạt phía trước và đánh ngay những lúc
tàu c̣n đang nghiêng vị. Hai khẩu mini gun hoạt đông độc lập không những
xạ thủ đánh được 180 độ mỗi bên từ trước ṿng ra sau, đánh
thẳng xuống khi cận chiến quần thảo ngay trên đầu địch.
Vừa
thoát cơi chết ngoài vùng chiến địa, lết dần về hướng vị trí bạn,
tàu bắt đầu rung dữ dội như muốn găy ra làm hai, buộc tôi phải đáp
khẩn cấp xuống quận Nam Ḥa. Sau khi đặt tàu xuống đất b́nh yên mới
biết chúng tôi c̣n sống. Ngồi yên lặng cho những giờ phút chiến đấu hăi
hùng, căng thẳng tan dần trong tâm năo, tôi nhắm mắt, gục đầu trên cần
lái để nghe cơ thể ḿnh bắt đầu khơi lại nhịp sống chuyển
vận ḍng máu trong thân. Những chiếc khác cũng đáp theo sau, anh em đang vây quanh đón
mừng chúng tôi vừa thoát nạn và quan sát con tàu, như cùng một lúc tôi nghe các câu nói thảng
thốt của nhiều người:
- Tàu bị bắn nát như tương vậy
mà ổng c̣n lết về được đúng là trời cứu!
Hai anh xạ thủ
bước tới đỡ tôi ra ngoài nói qua làn nước mắt.
- Ông thầy, trong
tàu ḿnh chắc có ai đeo bùa hộ mạng, nếu không thầy tṛ ḿnh chắc chết hết
c̣n đâu!
Sau khi han hỏi anh em và biết tất cả b́nh yên, tôi mới yên tâm vịn
vai anh Đương nói để xoa dịu nổi kinh hoàng c̣n vướng víu trên nét mặt bơ
phờ. Tôi vỗ vai anh:
- Yên rồi, ḿnh được b́nh yên rồi, chính anh mới
là bùa hộ mang, nếu khẩu mini gun của anh hư nữa ḿnh đâu c̣n có dịp đứng
đây!
Tôi cảm ơn Đại úy Nguyện, thượng sĩ I Ái đă đặc biệt
quan tâm trong lúc tính mạng chúng tôi như chỉ mành treo chuông.
- Tôi thấy anh bay trong biển
lửa mà hăi hùng, lo cho anh quá!
Và anh Nguyện nói tiếp:
- Bastogne đang bị pháo!
- C̣n hàng chúng ta vừa tiếp tế cho Bastogne?
Tôi vội vàng hỏi rồi tự
nói nhỏ như chỉ để vừa đủ nghe:
- Thế là công dă tràng! Tội
nghiệp anh em trên đó!
Ngước nh́n lên tàu, tang thương đến không c̣n ǵ
để nói; trên mui dột nắng tứ tung, tôi đi ṿng quanh tay ṃ mẫm thân tàu trúng đạn
tứ phía gần như biến dạng. Nửa thân về sau, nhất là cái đuôi không chỗ
nào c̣n nguyên vẹn, có lỗ đạn có thể để lọt bàn tay, có nhiều lỗ
lớn v́ đạn xuyên phá chui ra ngoài. Anh em cũng đi lục t́m ra được cả
chục đầu đạn lớn nhỏ đủ loại c̣n vướng mắc, hai
cánh quạt cũng rách te tua khiến tôi bàng hoàng đến sững sờ kinh ngạc. Tàu bị
trúng hằng trăm viên đạn mà vẫn hiên ngang tung hoành trong biển lửa và về lại
an toàn. Phép lạ nào đă cứu chúng tôi! Tôi chỉ biết cuối đầu thầm cảm
tạ Ơn trên cứu mạng.
Nh́n con tàu tàn tạ mà ngậm ngùi. Nó từ nửa quả
địa cầu khác đến đây chung sức chung ḷng, sát cánh cùng chúng tôi bảo vệ
mảnh đất tự do nầy, bây giờ nằm đó hiện hữu như hư, như
thực, như cơn mơ c̣n giăng mắc đạn thù đỏ lửa mênh mangà Tôi muốn
ôm nó vào ḷng nói lời tạ ơn, nói lời vĩnh biệt. V́ tôi biết thương tích
nầy con tàu sẽ không c̣n cơ hội theo chúng tôi trên đường mây gió hành quân. Nó ở
lại đây giải ngũ và giă từ vũ khí.
Tôi muốn dợm bỏ đi nhưng
cái quyến luyến vô h́nh cứ giữ chân tôi lại. Chính nó đă cùng chúng tôi hành quân dọc
ngang trên khắp chiến trường vùng hỏa tuyến, như Cồn Tiên, Gio Linh, Đông Hà,
Khe Xanh, phía Nam ḍng Bến Hải... mà nay trong phút giây hiểm nghèo trên chiến địa, trong
phút giây sinh tử đă căng ḿnh ra hứng chịu tất cả khối hận thù của
Bắc quân, che chở và bảo vệ chúng tôi về đến chốn b́nh yên mới trút hơi
thở cuối cùng. Đối lại, Phi công và phi hành đoàn trực thăng là những người
bay không trang bị dù, nên bất cứ hoàn cảnh nào người với vật không thể
tách rời nhau mà luôn luôn gắn bó theo nhau về tới đất.
Chúng tôi trở về
Đà Nẵng xót xa bỏ con tàu yêu dấu nằm trên băi cỏ chờ đợi mục nát với
thời gian.
(*) Viết đến đây, tôi xin dành đôi ḍng viết về những
người xạ thủ mini gun gan dạ đầy can đảm nầy, cũng như
trong phi đội trực thăng vơ trang về sau tôi thường gọi họ là mấy
ông thiên lôi. Nếu trên chiến trường, chúng tôi có lập được đôi chút chiến
công đều do công lao và tài điều khiển tuyệt vời khẩu Minigun sáu ṇng của
họ trút lên đầu địch bốn ngàn viên đạn mỗi phút, phá vỡ ṿng vây
áp lực hay những chướng ngại của đối phương để quân bạn
tiến lên truy kích.
Giữa năm 1971 khi Phi đoàn 213 về Nam tăng phái cho căn
cứ Không quân Biên Ḥa, đặc biệt theo cánh quân Dù hành quân sang Cao Miên và khu Tứ giác sắt
vùng biên giới Việt -Miên - Kampong cham, Snoul, An lộc, Tây ninh. Họ đă đu ḿnh chân trong
chân ngoài bắn đuổi theo giặc. Chính những người xạ thủ Minigun đó
mới thực sự là mối gieo kinh hoàng cho Bắc quân, cho địch thủ.)
Huỳnh
- Hữu - Nghị Phi đội trưởng phi đội gunship Phi đoàn 213/ KĐ51CT
/ SĐ1KQ (Viết tại Pháp mùa Đông năm 2003)
Sau "Mùa Hè đỏ lửa năm 1972, sáu
phi đội gồm bốn phi đội trực thăng vận và hai phi đội vơ trang
tiên đầu tiên được trung tá Cao Quang Khôi, Phi đoàn trưởng phi đoàn 213 thành
lập nhằm đào tạo và đáp ứng như cầu thiết yếu đ̣i hỏi
của chiến trường càng lúc càng gia tăng khốc liệt nơi vùng hỏa tuyến.
Những phi đội trưởng, tuy tất cả là những sĩ quan trẻ nhưng
đă chứng tỏ đầy đủ khả năng chỉ huy hành quân vô cùng xuất sắc
trên khắp lănh thổ Quân khu cũng như những biệt đội ngoại biên Chu Lai
phía Nam Đà-Nẵng và Biệt đội tiền phương phía bắc Hải Vân. Những
ḍng nầy được viết lại thể theo lời yêu cầu của anh Hải Triều,
nhóm nhà văn quân đội, nhóm chủ trương các tác phẩm "Những Trận Đánh Không
Tên Trong Quân sử ".
Đặc biệt, xin tặng phi đoàn 213 và SĐ1BB. Ngôn ngữ có giới
hạn của nó nên không thể dùng lời ǵ đủ ư nghĩa vinh danh sự dũng cảm
cang cường và sự hy sinh cao quư vô bờ bến của những người lính trấn
biên cương đă dành cho mảnh đất Miền Nam.
| Subject: |
CƠ KHÍ VIÊN PHI HÀNH |
|
| Author: |
BachMa |
|
CƠ PHI
P.Thông - Cựu Thượng Sĩ
Ngay cả nhiều người ở trong KQ cũng
không biết Cơ Phi là cái ǵ, c̣n người ngoài KQ th́ cứ thấy ai mặc đồ bay
mà không đeo lon th́ gọi chung là "bọn" Cơ Phi Xạ Thủ.
Thời trước, người vào ngành Hoa Tiêu
hay Cơ Khí học bên Pháp ra đều mang cấp bực Trung Sĩ, nhưng thời TT Ngô
Đ́nh Diệm th́ Hoa Tiêu được đặc cách lên Chuẩn Uư, trong khi các anh thợ
máy, dù Cơ Khí dưới đất hay Cơ Khí Phi Hành đều cứ phải mang cấp
bực HSQ, chả thế mà sau này có hai anh bạn thân mà người th́ lên tới Tướng
Tá , trong khi anh kia c̣n mang Th/s hay Chuẩn Uư già như ông Mê-Vô Dương
Hùng Cường tác giả của cuốn Buồn Vui Phi Trường (Sau chuyển qua làm đài
Không Lưu Biên Hoà).
Cũng có những khoá KQ mà ra trường đă là
sĩ quan ngay, nhưng ông PĐT của tôi hồi mới ra trường, ông cũng mang lon
TS.
Cho đến thời kỳ trước và sau
tết Mậu Thân ít năm, KQ và HQ Việt Nam đều không có lớp HSQ lấy từ dân
chính vào như bên Bộ Binh, mà chỉ có khoá Đào Tạo HSQ lấy từ cấp Binh nhất hay Hạ sĩ cơ hữu gửi đi học ở Biên Hoà và TSN.
Nhưng sau này riêng KQ bành trướng quá nhanh, nên những
khoá HSQ đă được mở ra cho dân chính mà điển
h́nh là khoá 5 HSQ Cơ Phi có 395 người mà tôi theo học.
Trên mỗi chiếc máy bay đều có một
người Cơ Khí Viên Phi Hành gọi tắt là Cơ Phi hay Mê
Vô (mecanicien volant) tức là thợ máy biết bay (!) ngoại trừ máy bay quan sát L19 hoặc
Khu trục.
Người Cơ phi học trường quân sự
trong 6 tháng, vừa ở Biên Hoà vừa ở Nha Trang và huấn nhục cực khổ vất
vả, th́ chẳng khác ǵ các khoá SQKQ hay SQ Thủ Đức . Sau đó c̣n 6 tháng nghề nghiệp
ở trường Kỹ Thuật, vị chi là một năm chẵn .
Tuỳ theo khoá chuyên môn học trong trường Kỹ
Thuật mà sau này sẽ đi theo phi đoàn C119, C47, C7 Caribou, C130, CH47, H34 ... và nhiều nhứt
là trực thăng UH1.
Đă là nhân viên phi hành th́ đều được
cấp phát áo bay, jacket, đồng hồ, kiếng, súng như nhau và đeo cánh bay, nhưng
khác biệt:
-Navigator ở giữa cánh bay có quả địa
cầu.
-Hoa tiêu có ngôi sao.
-Quan sát có ống ḍm.
-Y tá phi hành có chữ thập đỏ.
-Áp tải có con voi.
-Vũ khí phi hành có cây súng.
-Cơ phi có cánh quạt.
Nhớ ngày chúng tôi ra đơn vị th́ KQVN mới
có mấy PĐ Trực Thăng mà thôi , đó là PĐ213, 219 ở Đà Nẵng, PĐ215 Nha
Trang, PĐ211 và 217 ở Cần Thơ, hầu hết đă có UH1 ngoại trừ PĐ219 đi
đổ biệt kích th́ vẫn c̣n xài H34.
Xạ Thủ mà tên chính thức là Vũ Khí Phi Hành
th́ lại được tuyển mộ từ bên Bộ Binh qua.
Thường th́ học vấn của những
anh em này không được cao lắm (trong khi một người lính Không quân b́nh thường
phải có ít nhất bằng TH đệ nhất cấp), nên đang là một người
lính khinh binh vất vả cùi đày, được chuyển qua một ngành mặc áo bay liền
quần, flare đeo đỏ dới và cây ru lô xề xệ, một số ít xạ thủ
có những hành động lấy le thái quá, nhận đại là SQ để cua đào, rút
súng bắn lấy oai nơi vũ trường, quán xá.. v v.. Làm cho giới HSQ Phi hành mang tiếng
không ít.
Dĩ nhiên ngành xạ thủ có nhiều nhân viên đầy
tư cách, xứng đáng là những quân nhân gương mẫu, họ lại có nhiều kinh
nghiệm chiến trường từ hồi c̣n ở Bộ Binh, nên khi máy bay bị bắn
rớt trong rừng già, họ thường trở thành leader của cả Phi hành đoàn và
nhờ đó chúng ta thoát hiểm.
Chính v́ lẽ tự ti mặc cảm, tôi để
ư thấy phần đông Cơ Phi không mặc áo bay liền quần, ngoại trừ lúc đi
chào cờ .Họ mua áo bay rời Nomex màu cứt ngựa của US Army mà mặc, vừa tiện
lợi, vừa chống lửa, lại không bị người ta gọi bằng từ ngữ
khinh miệt "bọn cơ phi xạ thủ"
Hồi tôi ra Đà nẵng, tập thể Cơ Phi
hầu hết c̣n độc thân, sống trong một dẫy barrack kế bên đồn Quân
Cảnh, rất sạch sẽ và kỷ luật, mỗi sáng đều có xe của Pḥng Hành
Quân xuống chở lên PĐ.
Đại Uư
Toàn (về sau là Tr/t PĐT 239) đă liên lạc với cố vấn Mỹ mà xin rồi chở
về cho chúng tôi giường nệm, tủ cá nhân, TV và thực phẩm hộp, nên cuộc
sống coi ṃi thoải mái hơn những quân nhân khác.
Nói đến đây, tôi cũng ghi thêm nỗi bất
b́nh của những ngày mới ra Đà Nẵng . SQ th́ có Cư Xá SQ, Binh sĩ cũng có Cư
Xá Binh sĩ gần Phạn xá, nhưng đám HSQ Cơ Phi mới ra trường th́ lêu bêu vất
vưởng không có chỗ ở, Ban Cư Xá th́ đá qua Phi Đoàn, mà PĐ233 mới thành lập
th́ chưa có cơ sở và... chưa có cả máy bay , Hoa tiêu c̣n gửi bay với Mỹ ở
bên Blackcat Sơn Chà chưa về . Cũng may Đ/uư Toàn ở PĐ213 giúp đỡ nhiều,
chứ không thôi chúng tôi rất khốn đốn trong những ngày mới ra đơn vị.
Chuyện ngày xưa có câu:
-Rớt tú tài anh đi trung sĩ....
...đă làm cho những người lính Cơ phi tủi
thân nhiều lắm, bởi v́ tất cả đều là "Tú Tài Lạc Đệ" . Ngoài giờ
đi hành quân về là họ không la cà ngoài quán xá, cả bọn chúi mũi vào học và đọc
sách nên chỉ ít năm sau là hơn một nửa số Cơ phi ở Đà Nẵng đă
có bằng Tú Tài 2 và nhiều người sau đó đă ghi danh ở Đại học Huế
và SG.
Trong khi đó SQ hoặc lính Kỹ thuật th́ hầu
như tự bằng ḷng với chính ḿnh, nên rất hiếm người đi học thêm ở
các trường dân sự.
Khi khoá Hoa Tiêu hay SQ Đà Lạt mở ra, nhiều
lính Cơ phi đă xin đi học, nhưng tiếc rằng khi vừa ra trường để
thành SQ th́... đứt phim.
Khoá chúng tôi có 50 người, chừng 25 người
ra đơn vị mới thành lập là Phi đoàn 233 Đà Nẵng, rồi sau này tản ra
các phi đoàn khác như 239, 219, 253 v v...Hoặc theo học các khoá SQ.
Trong số 25 người đó, th́ riêng trận Hà
Lào đă dớt đi hai người, rồi tới mùa hè đỏ lửa tại Quảng
Trị, trận tái chiếm Bastogne Tây nam Huế... cứ hao hụt đi dần dần.
Sau năm 72, khoá chúng tôi, những người c̣n
sót lại hầu hết đă lên trưởng toán và cấp bực là Thượng sĩ.
(Tôi không hiểu tại sao có những vị SQ cao
cấp viết hồi kư mà cứ xài chữ Quân hàm, v́ hồi thời VNCH, trên giấy tờ
hoặc lời nói thường ngày, chúng ta vẫn xài "cấp bực", chữ quân hàm chỉ
có VC xài).
Mặc dầu cũng là dân Phi Hành mà năm 75 khoá
tôi di tản qua Mỹ được có hai người, bây giờ kể cả ở VN, Úc
và Mỹ chỉ c̣n sót lại tám người.
Cả khoá 50 người mà sau sáu năm....chỉ
c̣n có 8, th́ sự hy sinh của giới Cơ phi trong KQ cũng đâu phải nhỏ!
Chúng tôi cũng có nhận được những
huy chương như Anh Dũng Bội Tinh hay Phi Dũng Bội Tinh, nhưng thú thực là
không dám tự hào, v́ rằng có phải tự chúng tôi lao vào lửa đạn đâu. Ngồi đằng sau th́ Hoa Tiêu bay đâu ḿnh tới đó, tụi Vẹm có bắn
lên th́ ḿnh phụt xuống vậy thôi, không lẽ roót quá cứ ngồi phơi Cụ Hồ
ra cho chúng bắn.
Ngày dự trận Hạ Lào, tôi thuộc PHĐ với
Th/uy Đạt và Bi, bị bắn rớt ở Đồi 31, thế mà PHĐ của Đ/uy
Kỳ đă làm một cú Rescue ngoạn mục và anh dũng . (Tôi xin kể về trận này
vào một dịp khác).
Qua Mỹ, chúng tôi tương đối thành công
về học vấn và kinh doanh ở xứ sở này, những điều mà hồi trước
nằm mơ cũng không thấy, v́ Cơ phi th́ có khi nào mà được du học hay tu nghiệp
ở Mỹ.
Đặc biệt ở PĐ 233 có Thắng Cơ
Phi qua Mỹ hồi 75 rồi gia nhập quân đội Mỹ
và lái trực thăng A1H Cobra, anh tham dự trận đánh Kuwait lên đến cấp Đại
uư rồi xuất ngũ, bây giờ đang ở ngành cảnh sát tại San Francisco.
Dù bây giờ vật đổi sao dời, chúng
tôi có khi giữ chức vụ cao trong ngành nghề, hay giàu có trong thương trường,
mỗi khi gặp lại những SQ xưa hay anh em cùng quân chủng, chúng tôi vẫn kính trọng
và giữ t́nh thân ái, giúp đỡ hết ḷng, v́ không bao giờ quên câu "Không bỏ anh em, không
bỏ bạn bè" đă học thuộc ḷng từ ngày c̣n ở Quân trường Nha Trang.
Dallas 2003 -Thong. PD 239
|
|
| Subject: |
Không Quân VNCH Giai Đoạn Sau Hiệp Định Paris |
|
| Author: |
comay |
|
Không Quân VNCH Giai Đoạn Sau Hiệp Định Paris VƯƠNG
HỒNG ANH
Như đă tŕnh bày trong loạt bài viết “Chiến trường Việt
Nam, 30 năm nh́n lại”, ngày 27 tháng 1/1973 Hiệp định Paris được kư kết
và có hiệu lực từ 8 giờ sáng ngày 28 tháng 1/1973, thế nhưng CSBV đă vi phạm
các điều khoản về đ́nh chiến ngay từ giờ đầu của lệnh
ngưng bắn. Trong khi đó, thi hành các điều khoản về rút quân, lực lượng
Hoa Kỳ đă ngưng mọi hoạt động yểm trợ Quân lực VNCH và các đơn
vị cuối cùng của Hoa Kỳ đă lần lượt triệt thoái khỏi Việt
trong ṿng 60 ngày kể từ khi Hiệp định được kư kết. Cũng từ
ngày 28 tháng 1/1973, Không quân Việt Nam Cộng Ḥa đảm trách tất cả các hoạt động
không yểm cho các đơn vị bộ chiến QL.VNCH trên khắp 4 quân khu.
Vào thời
gian này, công tác chính của bộ Tổng Tham mưu QL.VNCH là tiếp tục thực hiện
cải tiến và canh tân vốn đă được tiến hành từ 1970 và h́nh thành nhờ
vào các đợt chuyển giao quân dụng ồ ạt của Quân đội Hoa Kỳ cho QL.VNCH
trong năm 1972, nhất là vào những tháng cuối của năm này, v́ theo quy định trong
Hiệp định Paris, Quân lực VNCH chỉ có thể hoạt động với số
quân cụ, vũ khí và trang bị có sẵn trong tay nhờ được chuyển giao trước
ngày lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Tuy nhiên, các kế hoạch cải tiến đặt
trọng tâm vào các binh chủng Nhảy Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động
quân, Thiết giáp và Pháo binh thuộc Lục quân để có đủ lực lượng tiếp
ứng khi chiến trường sôi động, riêng với Không lực VNCH, các đơn vị
Không quân đă phải hoạt động trong những điều kiện khó khăn do sự
giảm quân viện của Hoa Kỳ.
Trong hai năm 1973 và 1974, các không đoàn chiến
thuật của 6 sư đoàn Không quân đă bị cắt giảm số giờ bay cho các
phi vụ yểm trợ, trong khi đó CQ lại gia tăng các cuộc tấn công từ cấp
tiểu đoàn đến cấp sư đoàn trên nhiều mặt trận. Dù găp khó khăn
về điều kiện tác chiến, nhưng các không đoàn của Không lực VNCH đă
yểm trợ rất hữu hiệu cho các đơn vị bộ chiến chận đứng
và vô hiệu hóa các cuộc tấn công cường tập của địch quân, nhất là
trong 6 tháng đầu năm 1973 khi CQ đă mở ra hàng loạt cuộc tấn công cấp
trung đoàn, và bốn cuộc tấn công cấp sư đoàn vào Cửa Việt (28-1), Sa Huỳnh
(26/1 đến 16/2), Hồng Ngự (tháng 3), Trung Nghĩa thuộc tỉnh Kontum (tháng 6).
Theo
tài liệu của của cựu đại tướng Cao Văn Viên-nguyên Tổng tham mưu
trưởng QL.VNCH-viết cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, v́ t́nh h́nh ngân quỹ
eo hẹp nên lực lượng Không quân VNCH buộc phải thực hiện một số
giải pháp cấp thời sau đây: - Ngưng hoạt động hơn 200 phi cơ, trong
đó có các phi cơ ném bom A-1, phi cơ thám thính 0 1 và các loại phi cơ vận tải loại
C-7, C-119, và C-47. - Chấm dút việc thay thế F 5A bằng F-5E. 36 chiếc được
đặt mua nay phải giao lại cho Không quân Hoa Kỳ, và số tiền hoàn trả chỉ
dùng vào công việc bảo tŕ và hoạt động của các phi cơ hiện hữu. -
400 sinh viên sĩ quan phi công đang thụ huấn tại Hoa Kỳ phải bỏ ngang khóa học
trở về nước. Hơn 1,000 khóa sinh Không quân vừa phi hành vừa không phi hành đang
theo học đang theo học các khóa Anh ngữ để chuẩn bị đi học chuyên
môn phải chuyển sang học Bộ binh tác chiến. Điều này tạo một ảnh
hưởng tâm lư bất lợi cho Không quân VNCH. - Cắt bớt số giờ bay cho các phi
vụ huấn luyện và yểm trợ mà trong đó các phi vụ yểm trợ bị cắt
xuống c̣n một nửa so với mức độ chiến trận của hai năm 1973-1974,
các phi vụ thám thính bị cắt 58% Như vậy vấn đề phát giác và theo dơi các cuộc
chuyển quân của địch bị trở ngại và công tác bảo vệ đoàn tiếp
tế cũng bị hạn chế rất nhiều.
Trực thăng vận bị cắt
giảm 70%. Theo đại tướng Cao Văn Viên th́ sự cắt giảm này làm ảnh
hưởng nặng nề trong công tác tải thương hay đổ quân tăng cường
và tiếp tế, nhất là trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long với hệ
thống kênh đào chằng chịt như bát quái trận đồ. Nơi đây nhờ chiến
thuật trực thăng vận mà rất nhiều binh sĩ bị thương được
kịp thời cứu sống và nhiều đồn bị vây hăm được giải tỏa
kịp thời. Nay thiếu vắng các trực thăng này, buộc các đơn vị tại
Quân khu 4 phải dùng đến thuyền tam bản và ghe để tải thương, việc
tiếp tế đạn dược trở nên vô cùng khó khăn. Thêm vào đó, vấn đề
tâm lư rất khó nguôi.
Các chuyến chuyên chở bằng đường hàng không cũng
bị cắt một nửa. Sự kiện này có ảnh hưởng nặng đến khả
năng di quân của các đơn vị Tổng trừ bị, v́ Sư đoàn Nhảy Dù và
Thủy quân Lục chiến là hai lực lượng tổng trừ bị nên cần phải
có mặt tại bất cứ nơi nào cần đến trên toàn lănh thổ, do đó khả
năng cơ động của hai lực lượng này vô cùng quan trọng. Phân tích về
thực trạng này, đại tướng Cao Văn Viên ghi lại như sau: Suốt trong
năm 1972, khi Cộng quân tấn công, Sư đoàn Nhảy Dù phải di chuyển từ Sài
G̣n lên Pleiku rồi từ Pleiku ra Vùng 1 chỉ trong ṿng 48 giờ. Việc di chuyển này vẫn
do phi cơ của Không lực VNCH hay của Hoa Kỳ nhưng vẫn không làm ảnh hưởng
đến các hoạt động không vận khác. Thế nhưng qua năm 1975 cũng với
hoạt động như vậy th́ phải mất 7 ngày và phải cắt bớt các chuyến
bay khác để lấy phi cơ chuyển quân.
Các loại phi cơ C 130A là phương
tiện không vận chính, đă phải thi hành một số phi vụ ném bom vào các tháng đầu
năm 1975. Nhưng v́ yếu tố kỹ thuật cũng như cánh phi cơ nứt, b́nh xăng
rỉ cộng với sự cắt giảm các chuyến bay nên mỗi ngày chỉ có 8 trong 32
chiếc C-130 A được sử dụng.
* Không lực VNCH trong ba tháng cuối của
cuộc chiến: Trong phần tŕnh bày về cuộc tổng tấn công của CSBV vào các
tháng 3 và 4/1975, đại tướng Cao Văn Viên đă nêu lên những khó khăn về t́nh
h́nh sử dụng các phi vụ chiến thuật mà với tư cách Tổng tham mưu trưởng
ông đă phải linh hoạt trong điều động. Ông kể lại: Suốt trong
vài tháng cuối của cuộc chiến, v́ lâm vào t́nh trạng khó khăn, nên bộ Tổng
Tham Mưu đă dùng phi cơ C 130 A vận tải để thi hành các phi vụ yểm trợ
chiến thuật, tăng cường hỏa lực và để giảm thiểu thiệt
hại về số phản lực cơ chiến thuật gây ra bởi hỏa lực pḥng
không hùng hậu của địch. Mỗi chiếc C 130 mang theo 8 bành thùng đựng JP-4 chứa
đầy dầu phế thải. Phi cơ bay trên cao độ từ 15 đến 20 ngàn bộ
(1 bộ= 0.3048 mét). Mỗi lần phi cơ bay qua và bom nổ, binh sĩ dưới đất
lấy làm vui mừng. Được hướng dẫn bằng vô tuyến từ dưới
đất lên nên rất chính xác nên mỗi đợt thả chỉ cách nhau từ 150 đến
450 mét.
Mỗi phi cơ C 130 có thể chở 8 bành bom loại thùng GP 81-82 (tương đương
với 250-500 cân Anh) hay ba bành loại GP-117 tương đương với 750 cân Anh. Binh
sĩ đặt tên cho các phi vụ này là tiểu B-52, hay B 52 Việt Nam. Lần đầu
tiên khi loại bom này được thả tại Tây Ninh, dân chúng tưởng B 52 của Mỹ.
Vậy là tin đồn rằng Không quân Hoa Kỳ can thiệp được loan đi rất
nhanh.
Gần đến cuối cuộc chiến, địch tập trung quân với một
số lượng lớn và các căn cứ của địch để hơ hớ giữa
ban ngày, thật là những mục tiêu ngon lành cho phi cơ. Kết quả trong các lần viếng
thăm của ông Eric Von Marbol, phụ tá bộ trưởng Quốc pḥng vào cuối tháng 2/1975
và tướng Weyand-tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, bộ Tổng tham mưu
đă làm một yêu cầu đặc biệt xin cung cấp vũ khí nào mà Không quân Việt
Nam có thể sử d |
| |